| |
|
Tên chủ đề |
Trả lời |
Người viết chủ đề |
Lượt xem |
Hành động cuối |
| Thông báo |
 |
|
Thông báo: Nội quy Diễn đàn Văn học Trẻ |
- |
Thợ Làm Vườn |
18880 |
--
Bài viết cuối bởi: Thợ Làm Vườn
|
 |
|
Thông báo: Hướng dẫn cách gõ tiếng Việt trên Diễn đàn Văn học Trẻ |
- |
Thợ Làm Vườn |
19665 |
--
Bài viết cuối bởi: Thợ Làm Vườn
|
| Chủ đề diễn đàn |
 |
|
|
0
|
quatangaua |
129 |
22nd July 2010 - 04:57 PM Bài viết cuối bởi: quatangaua |
TS. Nguyễn Thị Ngọc Điệp
Nghiên cứu về biểu tượng là lĩnh vực đã và đang được các nhà khoa học thuộc nhiều ngành khác nhau quan tâm đến. Thế giới các biểu tượng nói chung thực sự đã đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của con người từ xưa đến nay ở khắp mọi miền trên trái đất. Các biểu tượïng góp phần làm nên bộ mặt của một nền văn hóa ở những đường nét cơ bản nhất. Đó là một thế giới có sức hấp dẫn đặc biệt do nó quy tụ nhiều tính chất dường như đối lập nhau: vừa hiển hiện, vừa tiềm ẩn; vừa bộc lộ, vừa che giấu; vừa rõ ràng, vừa mông lung … Sự tác động, các mối quan hệï giữa thế giới biểu tượng và thế giới con người, những ý nghĩa hàm ẩn mà biểu tượng khơi gợi ra như một quy ước thẩm mỹ của cộng đồng … là những vấn đề lý thú mà người ta vẫn mong muốn có thể lý giải được nhờ vào những nỗ lực của tư duy lô-gich.
Thời gian gần đây, hệ thống biểu tượng nghệ thuật trong ca dao đã thu hút được khá nhiều sự chú ý của các nhà nghiên cứu. Ngày càng có nhiều hơn những khám phá, phát hiện mới, độc đáo từ thế giới biểu tượng. Các tín hiệu thẩm mỹ này đang dần dần được đánh giá đúng với những giá trị vốn có của chúng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin được giới thiệu đôi nét về nhóm biểu tượng hoa trong ca dao người Việt. Đây là nhóm biểu tượng xuất hiện với tần số cao trong sinh hoạt ca hát dân gian. Theo thống kê sơ bộ của chúng tôi, qua bốn tư liệu (1), có đến 615 lần các biểu tượng này đã được sử dụng. Cùng với các biểu tượng khác, nhóm biểu tượng hoa đã đem lại cho người tiếp nhận những ấn tượng sâu sắc, thú vị về bản chất thẩm mỹ của loại thơ ca dân gian đặc biệt này.
Biểu tượng nghệ thuật trong ca dao là những kí hiệu ngôn ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần, có khả năng biểu hiện những ý nghĩa sâu xa. Biểu tượng ca dao là những hình ảnh đã được dân gian chọn lọc trong sử dụng và được thử thách qua nhiều năm tháng, thể hiện đậm nét những đặc trưng truyền thống của folklore. Con cò, con bống, hạt mưa, ngọn đèn không tắt, chiếc áo rách, tấm gương mờ … là những biểu tượng quen thuộc trong ca dao.
Qua thực tế khảo sát, chúng tôi nhận thấy có thể tập hợp biểu tượng thành những nhóm khác nhau, mỗi nhóm bao gồm các biểu tượng có liên hệ gần gũi với nhau (do được tạo thành từ cùng một loại sự vật, hiện tượng). Các biểu tượng cùng nhóm được phân biệt bằng những khía cạnh, sắc thái, quan hệ khác nhau ở cái biểu đạt, dẫn đến sự khác nhau trong cái được biểu đạt, hoặc được phân biệt bởi những kết cấu sóng hợp không giống nhau từ một sự vật, hiện tượng trung tâm.
Ví dụ:
- Nhóm biểu tượng rồng có các biểu tượng: rồng- tiên, rồng - phụng, rồng - mây …
- Nhóm biểu tượng tằm có các biểu tượng: tằm - dâu, tằm - nhện, tằm - tơ …
- Nhóm biểu tượng cá có các biểu tượng: cá mắc lưới, cá - nước, cá - chim, cá - người câu cá …
Nhóm biểu tượng hoa đã được hình thành với nhiều biểu tượng: hoa, hoa đào, hoa hồng, hoa sen, hoa mai, hoa lý, hoa phù dung, hoa búp, hoa nở, hoa thơm, hoa đang thì, hoa tàn, hoa thơm mất nhị, hoa rơi, hoa - người hái hoa, hoa sen -hồ, hoa sen -bèo, hoa - bướm …
Tuy được xếp cùng một nhóm, nhưng các biểu tượng trên mang những ý nghĩa không hoàn hoàn giống nhau.
- Hoa nhài: người con gái với cái đẹp, cái duyên kín đáo, thầm lặng (2).
- Hoa sen: người con gái đẹp đẽ, cao quý.
- Hoa phù dung: người con gái có sắc đẹp nhưng chóng phai tàn.
- Hoa búp: người con gái chưa có chồng.
- Hoa nở: người con gái đã có chồng.
- Hoa tàn: người con gái tàn tạ.
- Hoa thơm mất nhị: người con gái không còn thanh tân.
…
Trên cơ sở một nét nghĩa chung phổ biến là biểu thị cho người con gái, mỗi biểu tượng lại thể hiện những nét nghĩa, những sắc thái ý nghĩa khác biệt nhau, không trùng lắp, phục vụ đắc lực cho nhu cầu giãi bày tâm tư, tình cảm của dân gian ở nhiều khía cạnh trong đời sống hàng ngày. Xuất phát từ những quan sát của dân gian về thế giới hoa cỏ trong thiên nhiên, các biểu tượng trên đã được hình thành. Mỗi loài hoa với những tính chất, đặc điểm không giống nhau, hay cùng một loài hoa nhưng ở các trạng thái khác nhau … đã gợi cho dân gian những liên tưởng phong phú, đa đạng về đời sống con người.
Cũng cần chú ý thêm là mỗi biểu tượng nhiều khi không chỉ có một nghĩa. Trong quá trình sử dụng, dân gian không ngừng mở rộng đối tượng nhận thức qua các biểu tượng, vì vậy, các tín hiệu thẩm mỹ này thường mang tính đa nghĩa.
Biểu tượng hoa sen chỉ người con gái đẹp:
- Búp hoa sen lai láng giữa hồ,
Giơ tay muốn bẻ sợ trong chùa có sư
- Có sư thì mặc có sư,
Giơ tay anh bẻ có hư anh đền.
(TL II (1) – tr. 240)
Nhưng cũng được dùng để biểu thị những con người cao quý nói chung:
- Hoa sen sao khéo giữ màu,
Nắng nồng không nhạt, mưa dầu không phai.
(TL I – tr. 1095)
Hoa tàn: người phụ nữ không còn xuân sắc hoặc người phụ nữ không còn thanh tân; hoa nở: người con gái đương thì, đẹp đẽ, trẻ trung hoặc người con gái đã có chồng …
Mỗi biểu tượng trong ca dao lại có nhiều biến thể khác nhau. Trong từng văn cảnh cụ thể, cấu trúc ngôn ngữ của biểu tượng có thể biến đổi nhưng ý nghĩa biểu đạt thì không đổi, mà chỉ được bổ sung bằng các nét nghĩa phụ làm phong phú thêm cho nét nghĩa cơ bản
- Biểu tượng hoa tàn có các biến thể: hoa úa, hoa xàu nhị úa, hoa gãy cành …
- Biểu tượng hoa thơm mất nhị có các biến thể: hoa thơm mất tuyết, hoa đã hết nhụy…
- Biểu tượng hoa - bướm có các biến thể: bướm chờ hoa, bướm say hoa, bướm lượn vườn hoa, bướm chào hoa, bướm phụ bạc hoa …
Nhờ vào các biến thể này, biểu tượng không bị khô cứng, sáo mòn mà luôn được biến đổi một cách linh hoạt. Nói khác đi, ở mỗi biểu tượng vừa có những yếu tố bất biến, vừa có những yếu tố khả biến. Các yếu tố bất biến khiếân biểu tượng mang giá trị của công thức. Các yếu tố khảø biến đem lại cho biểu tượng sự tươi mới, đa dạng. Công thức biểu tượng tồn tại được là nhờ vào sự kết hợp chặt chẽ giữa hai yếu tố trên.
Giữa sự vật và ý nghĩa thẩm mỹ của nó luôn có một mối quan hệ nhất định. Bản thân sự vật tự nó chưa mang ý nghĩa biểu tượng. Ý nghĩa này chỉ có khi con người khoác lên cho nó dựa trên những mối liên hệ mật thiết với tên gọi, hình dáng, thuộc tính, phẩm chất nào đó của sự vật. Điều này cũng có nghĩa là ở một sự vật có thể tồn tại nhiều khía cạnh, phương diện có khả năng khơi gợi những liên tưởng thơ ca. Khi xây dựng biểu tượng, nghệ nhân dân gian đã qua sự chọn lựa, sàng lọc từ sự vật một hoặc một số khả năng gợi liên tưởng nào đó, tạo ra cho sự vật những ý nghĩa mới. Những nét nghĩa này được sử dụng nhiều lần, được tập thể công nhận và trở thành nghĩa biểu tượng. Khi ấy, người ta hiểu ý nghĩa của biểu tượng theo một thứ phản xạ được xây dựng bằng thói quen, bằng quy ước văn hóa của cộng đồng. Muốn hiểu được đầy đủ, trọn vẹn ý nghĩa của biểu tượng, cần có vốn sống, vốn văn hóa, vì mỗi biểu tượng đều có một tầng nền lịch sử - xã hội - văn hóa riêng của nó (3).
Như vậy, biểu tượng ca dao không phải là cái biểu đạt (CBĐ) cũng không phải là cái được biểu đạt (CĐBĐ). Thực chất biểu tượng là mối quan hệ giữa CBĐ và CĐBĐ. Mối quan hệ này được tạo thành bằng các liên tưởng thơ ca. Các liên tưởng thơ ca làm nhiệm vụ bắc cầu, gắn kết CBĐ và CĐBĐ lại với nhau thành một thể thống nhất. Nền tảng của những liên tưởng này lại chính là các phạm trù tồn tại ở CBĐ và CĐBĐ.
Ví dụ: - Hoa thơm -------------> Người tốt
(phạm trù phẩm chất)
- Sông sâu -------------> Lòng người khó hiểu
(phạm trù kích thước)
Các phạm trù này thường có gốc từ CBĐ. Cơ sở, chất liệu của các liên tưởng thơ ca phần nhiều là các phạm trù ở CBĐ vì CBĐ là hữu hình, là tác nhân khơi gợi những suy nghĩ, những xúc cảm của con người.
Từ những bông hoa cụ thể trong đời sống cho đến những bông hoa biểu tượng trong ca dao là cả một quá trình quan sát, trải nghiệm, tích lũy … lâu dài của dân gian. Để thể hiện nghĩa biểu tượng, hoa được đặt trong nhiều mối quan hệ, nhiều khía cạnh:
- Hoa trong quan hệ với con người: hoa - người cầm, hoa - người lượm, hoa - người đi đường, hoa - người trồng, hoa - người hái, hoa - người bán, hoa - người mua, hoa - người tìm hoa, hoa - người đeo hoa …
- Hoa trong quan hệ với môi trường tự nhiên: hoa - đất, hoa - nơi trồng, hoa - sương, hoa - nắng, hoa - mưa, hoa - trăng …
- Hoa trong quan hệ với vật chứa đựng: hoa - lá gói, hoa - chậu, hoa - bình …
- Hoa trong quan hệ với các bộ phận khác của cây: hoa - cây, hoa - cội, hoa - trái, hoa - gai …
- Hoa với những giai đoạn sinh trưởng và héo tàn: hoa búp, hoa nở, hoa đang thì, hoa tàn, hoa hết nhụy, hoa rơi …
- Hoa với ong, bướm: hoa - ong, hoa - bướm
- Hoa thuộc các loài khác nhau: hoa lý - hoa sen, hoa lý - hoa đào, hoa lý, hoa lài - hoa khoai…
Sự vật (bông hoa) ở đây đã được đặt trong nhiều mối dây liên hệ phức tạp như chính bản thân chúng khi tồn tại trong đời sống tự nhiên. Từ cách làm này, dân gian đã tinh tế phát hiện ra những nét tương đồng giữa thế giới các loài hoa và thế giới con người. Có thể khái quát thành một số phạm trù cơ bản đã làm nền tảng cho các mối liên tưởng thơ ca hình thành nhóm biểu tượng hoa, đó là các phạm trù: màu sắc, hương vị, trạng thái, môi trường sinh trưởng, giá trị sử dụng …
Cùng với các biểu tượng khác trong ca dao, nhóm biểu tượng hoa cũng mang giá trị thẩm mỹ rõ rệt. Bên cạnh những lần xuất hiện với lớp nghĩa đen thuần túy, trong nhiều trường hợp, các loài hoa còn được dân gian khoác cho lớp nghĩa biểu tượng. Trong các sự vật được người xưa chọn làm biểu tượng cho người phụ nữ: chim, cá, hoa, trăng, liễu, đào, con bống, bến nước … có lẽ hoa là sự vật được sử dụng phổ biến hơn cả. Với tư cách là những mô –típ, những công thức truyền thống trong văn bản văn học dân gian, các biểu tượng hoa cũng có những tác động nhất định đến các thành tố khác của thi pháp ca dao như: ngôn ngữ, đề tài, chủ đề, kết cấu, cấu tứ, nhân vật … Một ví dụ nhỏ để qua đó thấy được chức năng của biểu tượng là lối trò chuyện bằng các biểu tượng hoa trong ca dao. Qua các đơn vị ca dao được khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng dù là ở kết cấu đối thoại một vế:
- Anh đừng ham bông quế, bỏ phế bông lài,
Mai sau quế rụng bông lài thơm lâu
(TL III – tr.162)
- Hoa thơm, thơm lửng thơm lừng,
Dặn con ong kia đừng chơi nhởi,
Dặn con bướm đừng xôn xao
(TL I –tr.1099)
hay ở kết cấu đối thoại hai vế:
- Chiều chiều bướm đậu vườn hoa,
Có cho bướm đậu hay lùa bướm đi?
- Bướm đậu ai dám lùa đi,
Vườn hoa thêm đẹp, người thì có đôi.
(TL I- tr.593)
- Thôi thôi buông áo em ra
Để em đi bán kẻo hoa em tàn
- Hoa tàn vì bởi mẹ cha,
Khi búp không bán để tàn ai mua?
(TL I –tr. 2075)
Nhóm biểu tượng hoa đã trở thành những tiểu đề tài để lứa đôi trò chuyện. Các biểu tượng hoa là trung tâm, là hạt nhân, là mô-típ nền tảng hình thành nên bài ca dao, gây cho người tiếp nhận những ấn tượng khó quên về một lối nói năng, diễn đạt kín đáo, tao nhã, cô đọng, súc tích của dân gian.
Ở một số trường hợp khác, các biểu tượng hoa đóng vai trò là những mô-típ thành tố hợp thành chỉnh thể ca dao:
- Dầu cho quá lứa
Em cũng chẳng hứa càn
Phải duyên em đổi lòng vàng
Không phải duyên kim cải, để hoa tàn nhụy phai
(TL IV – tr.81)
- Sen xa hồ, sen khô hồ cạn
Lựu xa đào, lựu ngả đào nghiêng.
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền,
Phiền người bội nghĩa, biết mấy niên cho hết sầu.
(TL I – tr.1833)
Có thể nói lối trò chuyện bằng biểu tượng đã tạo nên một phong cách rất riêng cho ca dao, trong đó, có phần đóng góp của các biểu tượng hoa. Với số lượng biểu tượng và biến thể phong phú, nhóm tín hiệu thẩm mỹ dân gian này đã có điều kiện để tham gia vào nhiều đơn vị ca dao trong quá trình sáng tác của người bình dân xưa.
Với thực tế tồn tại của nhóm biểu tượng hoa trong ca dao, chúng tôi nghĩ rằng nhóm biểu tượng này cần được khảo sát tỉ mỉ, toàn diện hơn nữa, để qua đó, người Việt Nam càng hiểu, càng yêu hơn các biểu tượng đã làm nên cái hay, cái đẹp cho ca dao.
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
791 |
26th December 2009 - 09:43 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
cái lắt léo, của ca dao
-Anh vể ván cho dầy
Đóng thuyền cho chắc đón thày mẹ sang.
- Thuyền lớn quan bắt chở lương
Còn con thuyền nhỏ chờ nàng sang sông
Chờ nàng anh đứng anh trông
Anh trông trông mãi mà không thấy nàng.
Khinh anh chèo chống lang thang
Bến kia nàng đã sang ngang cùng người
 |
|
|
0
|
myeuhn |
495 |
3rd November 2009 - 04:23 PM Bài viết cuối bởi: myeuhn |
Trong nền văn học Việt Nam, nữ thi sĩ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, không chỉ trong nội dung và nghệ thuật sáng tác mà ngay cả các văn bản sáng tác của nữ sĩ họ Hồ vẫn còn là những vấn đề đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu tìm hiểu.
Riêng về cuộc đời riêng tư của nhà thơ, cho đến nay vẫn còn là những dấu hỏi, chưa có một công trình nghiên cứu nào đáng tin cậy cả. Trong phần mở đầu bài thơ Hồ Xuân Hương – người đó là ai cố nhà thơ, nhà nghiên cứu văn học Hoàng Trung Thông, nguyên Viện trưởng Viện Văn học vốn người xứ Nghệ, làng Quỳnh Đôi – Quỳnh Lưu đã viết: Người ta nói nhiều về
Hồ Xuân Hương
Nhưng người đó là ai
Thật mỉa mai
Không ai biết rõ
Như có như không như không như có
Nàng ở làng Quỳnh
Nàng lại ở phường Khán Xuân
Mờ mờ tỏ tỏ…Qua đoạn thơ trên, đủ thấy việc nghiên cứu, giới thiệu tiểu sử nữ sĩ họ Hồ quả là một việc phức tạp. Đó phải chăng cũng là một hiện tượng đặc biệt của nữ sĩ? mà giới nghiên cứu văn học nước nhà luôn luôn quan tâm trong nhiều thập kỷ.Mời bạn đón đọc bài viết “Đôi điều về Hồ Xuân Hương” được sưu tầm, góp nhặt trên trang http://vietnamrank.com/thovietco để biết thêm nhiều điều thú vị về bà.
 |
|
|
4
|
ThanhTracNguyenVan |
615 |
25th October 2009 - 09:25 AM Bài viết cuối bởi: ThanhTracNguyenVan |
 |
|
|
0
|
doanva |
899 |
9th February 2009 - 09:39 AM Bài viết cuối bởi: doanva |
Ngày xưa ở xứ Phù tang chưa có hoa anh đào như bây giờ. Tại một ngôi làng xinh xinh ven núi Phú Sĩ ,có một chàng trai khôi ngô tuấn tú dũng cảm khác thường. Năm chàng mới tròn một tuổi ,có một đạo sĩ phiêu bạt ghé qua nhà, nhìn cậu bé, mỉm cười đặt vào tay người cha thanh sắt đen bóng rồi lặng lẽ ra đi.
Lúc đấy đang mùa đông tuyết rơi tầm tã vị đạo sĩ đi khuất trong mưa tuyết rồi mà người cha vẫn thẫn thờ nhìn trông theo. Đặt thanh kiếm vào tay người vợ trẻ, ông nói như thì thầm :”Hãy cất kỹ và giao thanh sắt này lại cho con trai chúng ta khi nó tròn 14 tuổi. Số phận đã an bài nó sẽ trở thành một kiếm sĩ lừng danh”.
Cha cậu bé qua đời. Người vợ trẻ ở vậy nuôi con. Thanh sắt đen bóng được giao lại cho chàng trai năm cậu tròn 14 tuổi. Cậu rùng mình vuốt ve kỹ vật huyền bí nặng nề ấy. Một sức mạnh kỳ lạ, một khát khao khó hiểu tràn ngập vào cơ thể tươi non dũng mãnh của cậu. Người mẹ chưa kịp nói gì thì cậu đã run rẫy thốt lên trong cảm xúc nghẹn ngào: “Ta phải trở thành một kiếm sĩ nổi tiếng nhất đất nước này”.
Chàng trai đến rạp đầu xin thụ giáo một võ sĩ đạo lừng danh. Vị samurai ngắm nhìn chàng trai từ đầu đến chân, trầm ngâm suy tư bất động hàng giờ liền. Cuối cùng ông thở dài lẩm bẩm một mình “oan nghiệt” và chấp thuận. Thời gian thấm thoát thoi đưa, tuổi 18 thanh xuân tràn trề sức sống đến với người kiếm sĩ. Tay kiếm của chàng khiến những samurai kiêu hùng nhất cũng phải e dè. Nhưng còn thanh sắt? Chàng đã tự mình rèn nó thành thanh kiếm sáng ngời đầy uy lực. Nhưng chưa được. Một thanh kiếm báu thực sự phải được tắm mình trong máu ngay trong ngày khai trận. Biết nhúng lưỡi thép uy lực này vào máu ai khi chàng chưa hề có kẻ thù, khi chàng chưa hề đối mặt với kẻ cướp, khi chàng chưa tìm được bất cứ lý do gì để quyết đấu một phen? Lúc này người mẹ và người thầy của chàng đã khuất núi. Cô gái duy nhất của vị võ sư lừng danh năm xưa là người thân yêu còn lại duy nhất của chàng. Mỗi ngày khi nắng đã tàn lụi trên núi Phú sĩ , đêm đã tràn ngập trên xóm núi , cô gái lại buồn bã nhìn chàng ngồi bất động ,trầm tư bên bếp lửa. Chàng không còn cười nữa, mắt chàng lạnh như tuyết, chàng ôm thanh kiếm mà ước mơ ngày nó được tắm mình trong máu để trở thành bảo kiếm vô địch thiên hạ
-Anh thân yêu! Có phải chăng đối với anh thanh kiếm này là tất cả ? Nếu nó không được tắm mình trong máu để ngập trong khí thiêng thì anh sẽ mãi mãi buồn đau?
Nhìn vào bếp lửa ,chàng trai vuốt ve thanh kiếm trong lòng và nói chậm rãi rất quả quyết
- Chỉ buốn đau thôi ư? Không đâu! Đối với anh,thanh kiếm là sự nghiệp, là cuộc sống, là tất cả…..làm sao anh có thể coi mình là một võ sĩ đạo chân chính khi thanh kiếm của anh chưa từng no say trong máu? Trời ơi! Anh chết mất! Sao thời buổi này yên bình đến thế ? Sao không có kẻ cướp nào thúc giục anh xuống kiếm.không có kẻ cuồng ngông nào thách đấu với anh?
Cô gái mỉm cười đau đớn. Cô chỉ hỏi để khẳng định quyết tâm của mình thôi
- Anh thân yêu! Cho em được cầm lấy thanh kiếm của chàng một chút thôi.
Cầm thanh kiếm đen bóng, sắc lạnh cô gái nhìn chàng bằng ánh mắt buồn thăm thẳm rồi đột ngột đâm thẳng vào tim. Máu trào ra ướt đẫm tấm thân mảnh dẻ của nàng, nhuộm hồng chiếc áo kimono trắng nõn, trinh bạch. Chàng trai hốt hoảng rú lên kinh hoàng, vươn tay rút phăng thanh kiếm khỏi lồng ngực cô gái. Dưới ánh lửa bập bùng ,thanh kiếm ngời sắc xanh rực rỡ, hào quang loé lên lộng lẫy lạ thường: nó đã được no mình trong máu!
Nhưng từ đó ,chàng trai hoàn toàn cô độc. Không samurai nào thèm kết bạn với anh. Họ nhìn sang chỗ khác khi đối mặt trên con đường hẹp. Họ rời khỏi quán trà khi anh bước vào. Họ từ chối khi anh thách đấu …. Cho đến một hôm, một buổi chiều mùa đông, khi những bông tuyết đầu mùa vừa rơi, chàng trai ôm thanh kiếm đến bên mộ cô gái. Chàng thì thầm :”Tha lỗi cho anh. Anh đã hiểu ra rồi…”Chàng bình thản cắm sâu mũi kiếm vào bụng rạch một đường mạnh mẽ và rút kiếm ra phủ gục bên cạnh mộ. Thanh bảo kiếm cắm sâu vào mộ đất….tuyết không ngừng rơi….đến sáng. Tuyết đã ôm trọn chàng trai và ngôi mộ vào vòng tay của mình. Chỉ còn lại một cây hoa lạ, mơn mởn vươn lên tươi cười, hồng thắm. Không ai biết hoa hoá thân từ thanh kiếm ấy. Người ta dặt tên hoa là Anh đào. Hoa anh đào có nhiều loại mọc được ở nhiều nơi. Nhưng không nơi đâu đẹp bằng hoa đươc ươm mầm và trổ bông ở vùng núi Phú sĩ.
Nguồn duhoc.viet-sse.vn
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
773 |
18th December 2008 - 11:22 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
BÀI CA ANH THỢ HÀN
(Ca dao cổ)
Vốn khi xưa anh là thợ hàn
Anh hàn từ nồi bẩy đến nồi ba
Bắt cô con gái mười tám đem ra anh cũng hàn
Cô này to lỗ tốn than!
Đông đâu mà đổ cho giàn lỗ ni !
Hết đồng anh đổ thêm chì
Anh hàn chín tháng cô thì có thai
Đên khi đẻ được một đứa con giai
Về sau giống bố gặp ai nó cũng hàn !
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
943 |
6th December 2008 - 09:52 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
Lời cô gái
- Anh về xẻ ván cho dầy,
Đóng thuyền cho chắc, đón thày mẹ sang.
Lời chàng trai:
-Thuyền lớn quan bắt chở lương,
còn con thuyền nhỏ chờ nàng sang sông.
Chờ nàng anh đứng anh trông
Anh trông trông mãi mà không thấy nàng.
Lời binh:
-Khinh anh chèo chống lang thang,
Bến kia nàng đã sang ngang cùng người!
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
718 |
8th November 2008 - 12:30 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
TÍNH NGHICH LÍ CỦA THƠ CA.
Trong thế giới nghệ thuật, nói chung và trong thơ văn nói riêng, ta thường bắt gặp những hình ảnh trái với lẽ tự nhiên. Hình tượng con Nhân Sư, trong truyện cổ Hi-Lạp, La-Mã, là một ví dụ sinh động về điều này. Trong thế giới tự nhiên, làm gì có con vật nào chắp vá giữa người và sư tử như thế? Vậy mà hình ảnh con vật đầu người, mình sư tử, lại được chấp nhận, không ai lên tiếng bác bỏ. Thông qua hình tượng Nhân_sư này, tác giả muốn thể hiện cái tính thú trong con người và tính vương giả của con thú dữ.
Những hình ảnh phi lí này, xuất hiện nhiều hơn trong lĩnh vực thơ và ca dao:
Trong Đường thi, ta bắt găp,mấy câu thơ của Thôi Hộ, trong bài Đề đô thành Nam trang:
Tích niên kim nhật thử môn trung,
Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.
Nhân diện bất tri hà xứ khứ,
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.
Dịch nghĩa:
ĐỀ Ở TRẠI PHÍA NAM THÀNH ĐÔ
Năm ngoái, hôm nay, trong cổng này,
Măt người và hoa đào, tỏa sắc hồng sang nhau
( giờ đây ) gương mặt người không biết về đâu,
( chỉ còn) hoa đào vẫn cười trước gió đông như cũ.
Từ tứ thơ ấy, Nguyễn Du, đã mượn để diẽn tả tâm trạng của chàng Kim, khi trở lại vừờn Thúy tìm gặp lại Thúy Kiều:
Đầy vườn cỏ mọc lau thưa,
Song trăng quạnh quẽ vách mưa rã rời
Trước sau nào thấy bóng người
Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông ...
Năm ngoái, là năm vừa qua, nhưng cũng có thể là quá khứ xa xưa. Có người đã hiểu là hoa đào nở vào cuối năm, còn Kim Trọng đến vào tháng giêng, nên năm ngoái là như vậy. Hiểu như thế là làm mất cái ý sâu xa, của câu thơ Kiều. " Năm ngoái", ở đây, phải hiểu là quá khư xa xưa, mới phù hợp với cốt truyện. Kim Trọng về chịu tang ông chú, sau ba năm, mới trở lại tìm Thuy Kiều, để nối lại tinh yêu còn dang dở. Vậy hình ảnh hoa đào ở đây, có ý nghĩa gì?
Sau cái buổi ban đầu gặp gỡ ''tình trong như đã, mặt ngoài còn e'', ở hội Đạp thanh, chàng Kim ôm mối tương tư. Đẻ tìm cơ hội găp Kiều, chàng đã thuê trọ ở nhà Ngô Việt thương gia, phía sau nhà của Vương ông. Ngày ngày Thúy Kiều thường đi dạo dưới trướng đào, một hôm không biết là vô tình hay hữu ý, đã để vương chiếc kim thoa trên cành đào. Chàng Kim, ở bên kia tường, trông đợi, bỗng ''giơ tay với lấy về nhà'', đợi khi Thúy kiều trở lại tìm, Kim Trọng lên đã tiếng, trả lại chiếc kim thoa, đồng thời cũng gửi theo '' bức tờ mây''( bức thư tỏ tình). NHững đóa hoa đào mùa xuân tinh ái ấy, đã trở thành hoa trong kỉ niệm của mối tình. Sau ba năm quay trở lại, cây đào năm xưa vẫn nở hoa. Đây là hoa đào của năm nay. Nhưng tại sao lại nói là hoa đào ''năm ngoái''? Có thư hoa nào tồn tại đựơc một vài tháng đâu, chứ nói chi là vài ba năm. Đây chính là hình ảnh nghịch lý, nhằm nói cho sâu sắc cái đièu có lý. Giữa hoa đào năm nay và năm ngoái, có nét tương đồng. lại gắn với kỉ niệm xưa và tâm trạng người nhìn hoa luôn luôn hướng về quá khứ, nên nhìn hoa năm nay, cứ tưởng là hoa năm ngoái. Bông hoa xưa, như còn đấy mà người xưa vắng bóng, đau xót biết bao nhiêu!
Trong ca dao cũng có những hình ảnh phi lí như vậy:
Anh về để áo lại đây
Đêm khuya em đắp, gió tây lạnh lùng.
Bài ca dao cảnh Tây hồ, cũng chứa đầy những nghịch lí:
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương
Mịt mù khói tỏa cành sương
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây hồ
( có dị bản là Ngàn sương )
Trong thơ ca, những tình tiết nghệ thuật lắt léo nhất, khó phân tích nhất, lại là chỗ hay nhất và luôn luôn thách đố tài năng của người cảm thụ.
Trần Thanh Xuân
,
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
827 |
25th October 2008 - 11:18 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
NGHỆ THUẬT CỦA CA DAO TRÀO PHÚNG
-Khái niệm TRÀO PHÚNG là sự khái quát chung cho những tác phẩm nghệ thuật,( không cứ gì văn chương), lấy tiếng cười làm phương tiện để biểu hiện thái độ gì đó, nhằm vào một đối tượng nhất định.
Đứng về nội dung mà xét, thì trào phúng có những cấp độ sau đây, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, từ nhẹ đến nặng :
1-Tiềng cười khôi hài:
Đây là tiếng cười mua vui, giải trí, đem lại sự thư dãn cho con người, sau những phút làm việc nặng nhọc. Đối tượng của tiếng cười có khi là chung chung, là sự việc hoặc sự vật trong cuợc sống ngày thường, cũng chẳng phải là ai cả. Đây là những câu ca dao thuộc loại đó:
Cởi quần, bắt kiến cưỡi chơi
Trèo cây rau má, đánh rơi mất quần.
Có khi đối tượng là nhân vật đáng yêu, cười để trêu đùa:
Còn duyên, anh cưới ba heo,
Hết duyên, anh cưới con mèo cụt đuôi.
Cũng có khi tự cười mình, với mục đích mua vui :
Ngồi buồn vuốt bụng thở dài'
Lấy chồng thì ít, nhớ giai thì nhiều.
2-Tiếng cười mỉa mai:
Đôi tượng đã co ít nhiều thiếu sót, nhưng chưa đáng ghét, hoặc sự việc trớ trêu... Đây là tiéng cười có tác dụng thức tỉnh ,giáo dục, hoặc cần phải thay đổi;
Đầu năm có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì bóc lột quàn chồng sao đang!
3-Tiéng cười châm biếm:
Tiếng cười chua cay, hướng vào đối tượng, hoặc sự việc lố bịch. đáng ghét:
Chuột chù chê khỉ rằng hôi,
Khỉ mới trả lời:""cả họ mày thơm''
4-Tiếng cười chế giễu, nhạo báng:
Tiếng cười loại này có phần gay gắt, nhằm phê phán quyết liệt nhứng thói hư tật xấu:
Bánh đúc cô nếm nồi ba
Mía de tráng miệng, hết và trăm cây
Guĩa gạo vú chấm đàu chày
Xay lúa cả ngày, được một đấu ba
Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa
Giở mình một cái, gẫy bẩy mươi ba cái thang giừờng.
Hoặc:
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan.
5-Tiếng cười đả kích:
Đối tượng của tiếng cười này là những thói xấu xa, thối nát, hoăc những kẻ đối lập với nhân dân:
Miệng nhà quan, có gang có thép
Đồ nhà khó vừa nhọ vừa thâm.
Đây là những khái niệm cụ thể, thể hiện mức độ khác nhau của tiéng cười, nhưng trong đời sống cũng như trong nghệ thuật, đây đó còn có sự lẫn lộn.
NGHỆ THUẬTCỦA CA DAO TRÀO PHÚNG:
Trong văn học trào phúng nói chung và ca dao nói riêng, người ta thường sử dụng các hình thức nghệ thuật sau đây:
1-Tình huống bất ngờ:
Tạo tình huống bất ngờ, có tác dụng làm cho tiếng cười bùng nổ một cách mạnh mẽ, tạo nên sự sảng khoái cho người đọc, người nghe:
Đồn rằng quan tướng có danh
Cưỡi ngựa một mình chẳng phải vịn ai !
Ban khen rằng ấy mới tài
Ban cho chiếc đĩa với hai đồng tiền
Đánh giặc thì chạy trước tiên
Chạy vào trận tiền, cửi khố giặc ra,
Giặc sợ giặc chạy về nhà
Chạy về gọi mẹ mổ gà khao quân !
2-Hình thức tương phản;
Tiêng cừoi này này có tác dụng làm nổi bật thưc chất giả dối hoặc sự trông rỗng, yếu kém ở bên trong của đối tượng:
Làm trai cho đáng nên trai
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.
Đây là lời khoe khoang, khoác lác, hợm hĩnh của một chàng trai khi tán tỉnh cô gái:
Lấy anh anh sắm sửa cho
NHưng rồi thực tế lai hoàn toàn trái ngược đến chua chát. Cái mà anh ta sắm sửa cho chỉ là trang bị của kẻ ăn mày:''Cái bị, cái bát, quạt mo đuổi ruồi ''
3-Hình thức cường điệu :
Có hai cách cường điệu thường thấy trong ca dao
a- Lối nói phong đai:
Đây là lời khoe khoang về đám cưới của cô gái nhà giầu:
Cưới em chín chĩnh mật ong,
MƯời cót xôi trắng, mười nong xôi vò,
Cưới em tám van trâu bò
Bẩy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm,
Lá đa mặt nguyệt đêm rằm,
Răng nanh thăng Cuội, râu cằm thiên lôi...
b-Lối nói giảm (khinh từ )
Đối lập với lời thách cưới của cô gái nhà giầu,là lời của cô gái nghèo, nói về đám cuới của mình:
Cưới em có cánh con gà
Có dăm sợi bún có và hạt xôi
Cưới em còn nữa anh ơi!
Một đĩa đậu phụ hai môi rau cần...
4-Nghệ thuật dung từ :
Loại từ mà ca dao thường dùng là từ đồng âm khác nghĩa:
Bà già đi chợ cầu Đông
Xem một quẻ bói lấy chồng lợi chăng?
Thày bói gieo quẻ nói rằng:
Lợi thì có lợi nhưng răng chẳng còn!
Một loại từ khác là từ đa nghĩa, tạo cho người đọc, người nghe, những liên tưởng kì thú :
Lên phố Mía, gặp cô hàng mật,
Cầm tay kẹo lại hỏi thăm đường.
Những từ Mía,mật, đường, kẹo, ẩn giấu một nụ cười hóm hỉnh tươi vui.
Rồi nhứng câu ca :
Bà đồ Mía đi võng đòn tre
Đên khóm trúc, thở dài hí hóp
Cũng đem đến những suy nghĩ thú vi.
Thực ra, còn một vài hình thức nghệ thuật khác nữa, nhưng đây là những hình thức cơ bản của ca dao trào phúng, mà tôi chỉ tạp hợp lại để tiện cho bạn đọc tham khảo thôi, chứ không có sáng tạo gì mơiứ mẻ cả.
Hà Nội ngày 25-10-2008
 |
 |
|
1
|
Ngàn Thu Áo Tím |
732 |
24th October 2008 - 10:52 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
Ai ơi đừng lấy học trò
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm
Bà già đã tám mươi tư
Ngồi trông cửa sổ gởi thư lấy chồng
Bà già đi chợ cầu Bông
Hỏi thăm thầy bói lấy chồng lợi chăng
Thầy bói xem quẻ nói rằng
Lợi thi có lợi nhưng răng không còn
Ba năm ở với người đần
Chẳng bằng một lúc ghé gần người khôn
Bắc thang lên hỏi ông trời
Có tiền cho gái có đòi được chăng ?
Cá tươi xem lấy đôi mang
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai
Tóc mai sợi vắn sợi dài
Có đâu mặt rỗ đá mài không trơn
Cánh hồng bay bổng trời thu
Thương con chim gáy cúc cu trong lồng
Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già
Cau non khéo bửa cũng dầy
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm
Cậu kia cắp sách đi đâu
Cậu học chữ Tầu hay học chữ Tây ?
Học chữ Tây không tiền không việc
Học chữ Tầu ai biết ai nghe
Chi bằng về chốn thôn quê
Cấy cày còn được no nê có ngày
Cây cao bóng mát không ngồi
Ra ngồi chỗ nắng trách trời không mây
Cây cao chẳng quản gió lung
Ðê cao chẳng quản nước sông tràn vào
Cây cao thì gió càng lay
Càng cao danh vọng, càng dày gian nan
Canh bầu nấu với cá trê
Ăn vô cho mát mà mê vợ già
Có chồng mà chẳng có con
Cũng bằng hoa nở trên non một mình
Cây vông đồng không không trồng mà mọc
Con gái xóm này chẳng chọc mà theo
Chân mình những lắm bê bê
Lại cầm bó đuốc mà vê chân người
Chẳng nên cơm cháo gì đâu
Trở về đốt bãi trồng dâu nuôi tằm
Chê đây, lấy đấy sao đành
Em chê cam sành , lấy phải quít hôi
Quít hôi bán một đồng mười
Cam ba đồng một, quít ngồi trơ trơ
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đĩa, lên rừng sợ ma
Chèo ghe xuống biển bắt cua
Bắt cua cua kẹp, bắt rùa rùa bơi
Chỉ đâu mà buộc ngang trời
Tay đâu mà bụm miệng người thế gian
Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Chính chuyên chết cũng ra ma
Lẳng lơ chết cũng đem ra ngoài đồng
Chó đâu chó sủa lỗ không
Không thằng ăn trộm cũng ông ăn mày
Chuối non giú ép chát ngầm
Trai tơ đòi vợ khóc thầm thâu đêm
Khóc rồi bị má đámh thêm
Tiền đâu cưới vợ nữa đêm cho mầy ?
Chuột chù chê khỉ rằng hôi
Khỉ lại trả lời "cả họ mầy thơm" !
Chuột kêu chút chít trong rương
Anh đi cho khéo đụng giường mẹ hay
Chuyện đời chẳng ít thì nhiều
Không dưng, ai dễ đặt điều cho ai
Chuyện người mặc kệ người lo
Hơi đâu đáy nước, mình mò bóng trăng
Có đỏ mà chẳng có thơm
Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì !
Cô kia má đỏ hồng hồng
Cô chưa lấy chồng, còn chờ đợi ai
Buồng không lần lữa hôm mai
Ðầu xanh mấy chốc, da mồi tóc sương
Có lòng xin tạ ơn lòng
Xin đừng đi lại mà chồng em ghen
Có mặt đây nói láo rằng thương
Tôi về xứ sở, vấn vương nơi nào?
Có phước lấy được vợ già
Sạch cửa sạch nhà, lại ngọt canh cơm
Vô phước, lấy phải trẻ ranh
Nó ăn, nó phá tan tành, nó đi !
Có trộm mới đi ăn đêm
Ai người tử tế ra đường nữa khuya
Cò vàng ẩn bụi lá xanh
Cò đương chờ cá, như anh chờ nàng
Cóc chết bao thuở nhái sầu
Ểnh ương lớn tiếng, nhái bầu dựa hơi
Cá trong lờ đỏ lơ con mắt
Cá ngoài lờ ngúc ngoắc muốn vô
Con chị rột rẹt sau hè
Hay là rắn mối tới ve chuột chù ?
Con chim nho nhỏ
Cái lông nó đỏ
Cái mỏ nó vàng
Nó kêu người ở trong làng
Ðừng ham lãnh lụa, phụ phàng vải bô
Con cò chết rũ trên cây
Cò con giở sách xem ngày làm ma
Cà cuống uống rượu la đà
Chim gi riú rít bò ra lấy phần
Con cò chết tối hôm qua
Có hai hạt gạo với ba đồng tiền
Một đồng mua trống mua kèn
Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
Một đồng mua mớ rau răm
Ðem về thái nhỏ thờ vong con cò
Con cóc nằm mép bờ ao
Lăm le lại muốn đớp sao trên trời
Còn duyên kén cá chọn canh
Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ
Còn duyên kén những trai tơ
Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa một mình
Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên đi sớm về trưa mặc lòng
Còn duyên như tượng tô vàng
Hết duyên như ổ ong tàn ngày mưa
Còn duyên thì bán nhãn bán hồng
Hết duyên bán mít cho chồng gặm xơ
Con ơi chớ lấy vợ giầu
Cơm ăn chê hẩm
Cá kho bầu nó chê tanh
Con ơi gia cảnh mình nghèo
Ham chi vợ đẹp vợ giầu nó khinh
Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan
Con quạ nó đứng bên sông
Nó kêu bớ má lấy chồng bỏ con
Con quạ nó đứng đầu non
Nó kêu bớ má thương con trở về
Con quốc kêu réo rắt trên ngàn
Gà rừng xáo xác gọi con tha mồi
Lạnh lùng thay láng giềng ôi
Láng giềng lạnh ít, sao tôi lạnh nhiều ?
Con vua thì lại làm vua
Con sãi ở chùa lại quét lá đa
Bao giờ dân nổi, can qua
Con vua thất thế, lại ra ở chùa
Ðố ai lặn xuống vực sâu
Ru con không hát, em chừa nguyệt hoa
Ðu đủ tiá, bạc hà cũng tiá
Ngọn lang dâm, ngọn mía cũng dâm
Anh thấy em tốt mã anh lầm
Bây giờ anh biết rõ, vàng cầm anh cũng buông
Em liều một cái bánh bò
Còn nào chót chét, cặp giò em chặt hai
Em liều một chén dầu chanh
Con nào hỗn dữ vuốt nanh em bẻ liền
Em liều một trái sầu riêng
Con nào độc hiểm, em nghiền ra tro
Gạo ngon nấu cháo chưa nhừ
Mặt chị có thẹo ảnh chừa đôi bông
Gẫm xem sự thế nực cười
Một con cá lội mấy người buông câu
Gập ghềnh nước chảy qua đèo
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng
Giận chồng xách gói ra đi
Chồng theo năn nỉ, khoái tù ti trở về
Gió đưa bụi trúc ngã quì
Ba năm trực tiết còn gì là xuân !
Hát bội làm tội người ta
Ðàn ông bỏ vợ, đàn bà bỏ con
Hèn mà làm bạn với sang
Kẻ ngồi người đứng có ngang nhau bao giờ ?
Hỏi anh anh nói học trò
Sao em lại thấy anh cỡi bò hôm qua ?
Trách lòng con chó sủa dai
Ðêm năm canh viếng bậu nó sủa hoài sáng đêm
Hôm nay có đám giỗ gần
Trong bụng bần thần, chẳng muốn nấu cơm
Hơn nhau tấm áo tấm quần
Cởi ra mình trần ai cũng như ai
Khác nào quạ mượn lông công
Ngoài hình xinh đẹp, trong lòng xấu xa
Lao động là vinh quang
Lang thang là chết đói
Hay nói thì ở tù !
Lù khù thì đi kinh tế mới !
Lấy chồng làm lẽ khỏi lo
Cơm nguội đầy rá, cá kho đầy nồi
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Ði cấy, đi cày chị chẳng kể công
Ðến tối chị giữ lấy chồng
Chị cho manh chiếu nằm không nhà ngoài
Ðêm đêm gọi những: Bớ Hai
Thức dậy nấu cám, thái khoai, đâm bèo
Lấy chồng từ thuở mười lăm
Chồng chê tôi bé chẳng nằm cùng tôi
Ðến năm mười tám, đôi mươi
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường
Một rằng thương, hai rằng thương
Có bốn chân giường gãy một còn ba
Ai về nhắn mẹ cùng cha
Chồng tôi nay đã giao hoà với tôi
Lập vườn thời phải khai mương
Làm trai hai vợ phải thương cho đồng
Lênh đênh chiếc lá giữa dòng
Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì
Gió đưa trúc ngã mai quì
Ba năm trực tiết còn gì là xuân !
Lỗ miệng thì nói Nam mô
Trong lòng thì đựng ba bồ dao găm
Má ơi con má hư rồi
Còn đâu má gả, má đòi bạc trăm
Má ơi con má hư rồi
Má đừng trang điểm phấn giồi uổng công !
Mặt em rỗ có ngày lì
Tay anh cán vá ông nội em trì cũng không ra
Mất trâu mất ruộng không màng
Mất cây cuốc mục ra làng kiện thưa
Mấy đời bánh đúc có xương
Mấy đời dì ghẻ mà thương con chồng
Mẹ gà con vịt chắt chiu
Mấy đời dì ghẻ mà yêu con chồng
Một lần cho tởn tới già
Ðừng đi nước mặn mà hà ăn chân
Một liều ba bảy cũng liều
Cầm bằng như trẻ chơi diều đứt dây
Một nhà hai chủ không hoà
Hai vua một nước ắt là không yên
Muốn cho êm ấm cửa nhà
Vợ kêu chồng dạ bẩm bà, con đây !
Muốn sang thì bắc cầu kiều
Muốn yêu cô chị phải chiều cậu em
Nam mô Bồ Tát
Chẻ lạt đứt tay
Ði cày trâu húc
Ði súc phải cọc
Ði học thày đánh
Ði gánh đau vai
Nằm dài nhịn đói
Ngày đi, trúc chửa mọc răng
Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn tre
Ngày đi, lúa chửa có vè
Ngày về, lúa đã đỏ hoe ngoài đồng
Ngày đi, em chửa có chồng
Ngày về, em đã con quấn, con quít, con bồng, con mang
Ngày qua tháng lại
Vật đổi sao dời
Nòng nọc đứt đuôi
Nhảy lên mặt đất
Rõ ràng cóc thật
Chẳng phải trê nào!
Cả xóm xôn xao
Ðồn đi khắp huyện
Cóc cho nghe chuyện
Tìm đến thử coi
Nhận rõ con rồi
Lại xin lỗi vợ
Trăm nghìn lạy mợ
Vì trót quá ghen
Ở không trọn nghĩạ
Nhà ai chồng quỉ vợ ma
Hễ ông ăn chả thì bà ăn nem
Ðói cơm khát nước tèm lem
No cơm ấm áo lại thèm nọ kia
Nhỏ thì nhờ mẹ nhờ cha
Lớn lên nhờ vợ, về già nhờ con
Quan văn mất một đồng tiền
Xem bằng quan võ mất quyền quận công
Rèm xưa ba bức mành manh
Mắt cô thế ấy tu hành được đâu
Rồng chầu ngoài Huế, ngựa tế Ðồng Nai
Nước sông trong chảy lộn sông ngoài
Thương người quân tử lạc loài tới đây
Rồng nằm bể cạn phơi râu
Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi
Rồng vàng tắm nước ao tù
Người khôn ở với người ngu bực mình
Tiếc thay hột gạo trắng ngần
Ðã vo nước đục, lại vần than rơm
Thấy anh em cũng muốn chào
Sợ anh chồng cũ nó đứng bờ rào nó trông
Thấy anh em cũng muốn chào
Sợ rằng chị ả vắt dao trong mình
Dao trong mình, gươm anh cặp nách
Thuận nhơn tình khoét vách sang chơi
Trai tơ lấy gái goá chồng
Như mua nồi đồng đem nấu cám heo
Trai tơ gái goá thì chơi
Ðừng nơi có vợ đùng nơi có chồng
Trống treo ai đánh cái thùng
Bậu không dám dở mùng chun vô
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng, con ở với ai
Trời mưa cho ướt lá khoai
Công anh làm rể đã hai năm ròng
Nhà em lắm ruộng ngoài đồng
Bắt anh tát nước cực lòng anh thay
Tháng chín mưa bụi, gió may
Cất lấy gàu nước, hai tay rụng rời
Trứng rồng lại nở ra rồng
Liu điu lại nở ra giòng liu điu
Tung tăng như cá trong lờ
Trong ra không được, ngoài ngờ là vui
Xin anh chớ nói yêu thương
Mỡ nạc anh ăn hết, cái xương anh chẳng chừa
Xin đừng ra dạ Bắc Nam
Ðừng chê lươn ngắn, chớ tham chạch dài
Xưa kia ăn đâu ở đâu
Bây giờ có bí, chê bầu rằng hôi
Xưa kia có thế này đâu
Bởi vì sợ vợ, nên râu quặp vào.
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
904 |
17th August 2008 - 04:50 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
CHỢ TÌNH SA-PA
Anh trai mèo xuống chợ
Áo đen thêu hương mùa
Vòng bạc lắc nhíp nhịp
KHèn níu vai đong đưa.
Ngựa xám trắng hoa lau
Mang theo mùi nương rẫy
Đưa em về chợ tình
Ô xòe hoa rung rinh.../
Sa-Pa bập bềnh trôi
Mù bay như khói tỏa
Như đảo tiên giữa trời
Thác xuông rừng trắng xóa.
Người lẫn vào trong sương
Đèn như hoa trong mộng
Tiếng sáo mèo vang động
Mở đêm vào chợ tình
Ôi câu hát đời anh
Đến lòng em chới với
Anh muốn làm sương núi
Ôm hình em suốt đời !
Có gì đâu anh ơi!
Anh có lòng, em đợi
Nào đi anh ra suối
Ta uống chung một dòng...
Trời bỗng nổi cơn dông
Đẻ tình em đi lạc
Áo em bay phía khác
Mưa rách lời tình ca!
Tôi đứng giữa ngã ba
Lời tình bay trăm ngả
Tiếng khèn về núi mèo
Lòng buồn như mưa đá
 |
|
|
0
|
tranthanhxuan |
716 |
24th July 2008 - 10:29 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
Lá này là lá xoan đào,
Tương tư thì gọi thế nào hả em?
Cánh bèo anh tưởng cánh sen
Ánh trăng anh tưởng ánh đèn, anh khêu.
Đọc mấy câu ca này, ta cứ như thấy hiện lên hình ảnh chàng trai dạo bước cùng thôn nữ trong đêm trăng thanh, gió mát, dưới rặng xoan đào .Chàng trai cúi xuống, nhặt chiếc lá xoan vương trên lối đi, giơ lên trước mặt cô gái và nói :
Lá này là lá xoan đào.
Câu nói này, đứng về mặt nhận thức thì rất thừa. Vì chàng trai nói cái điều mà cô gái thừa biết. Đây là điều quen thuộc trong cảnh sắc nông thôn. Nhưng đứng về phương diện giao lưu, thì nó có tác dụng lấp kín khoảng cách giữa đôi trái tim đang thổn thức; nó làm mất đi khoảng lặng trong giây phút khát khao rạo rực của lứa đôi. Nếu chỉ có thế thôi thì chẳng có gì đáng nói. Chỉ qua câu nói tưởng như vô nghĩa này, ta thấy được chàng trai là con người tinh tế và rất sâu sắc. Sau cái điều đã nói ấy, là điều chàng muốn nói: trên đời này, cái gì cũng có tên của nó, em ạ! Đây là cái cớ bên ngoài để nói cái bên trong, mượn chuyện xa để nói chuyện gần, nhằm bộc lộ nỗi niềm với cô gái:
Tương tư thì gọi thế nào hả em?
Hóa ra là chàng trai đang mắc bệnh tương tư !Quả là sự bộc lộ rất khéo léo và tài tình. Đây là câu hỏi để phô bầy, chứ không để cho cô gái trả lời. Vì tương tư là tương tư chứ còn biết gọi thế nào nữa. Đây cũng là lối nói ỡm ờ như thực như hư. Không biết vì sao khi bên em, anh nhìn gà hóa quốc! Cánh bèo mà cứ tưởng cánh sen, nhìn ánh trăng mà cứ tưởng ánh đèn nên khêu hoài bấc mãi không thôi. Cử chỉ nhầm lẫn thật là đang yêu ! Đặc biệt là cách dùng từ HẢ rất tài tình. Tác giả không dùng từ HỠI em, vì HỠI thì xa về khoảng cách không gian và tình cảm cũng xa. Còn HẢ là biểu hiện sự gần gũi đến thân thiết và khoảng cách không gian hầu như đã khép lại.
Cách thổ lộ tình yêu say đắm ổ nhưng chàng trai và cô gái nông thôn tửởng như mộc mạc mà đầy chất thơ
 |
 |
|
3
|
Ngàn Thu Áo Tím |
1,185 |
24th July 2008 - 09:21 PM Bài viết cuối bởi: tranthanhxuan |
Biết thì thưa thốt
Không biết thì dựa cột mà nghe
Cá không ăn muối cá ươn
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư
Gần mực thì đen , gần đèn thì sáng
Ăn cây nào, rào cây ấy
Ăn coi nồi ngồi coi hướng
Ăn cổ đi trước , lội nứơc đi sau
Của một đồng, công một lượng
Công thì thưởng, tội thì trừng
Ðặng không mừng, mất không lo
Ăn chưa no, lo chưa tới
Ăn cơm mới, nói chuyện cũ
Cha mẹ cú, đẻ con tiên
Cha mẹ hiền, sinh con thảo
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Dạy con từ thuở còn thơ
Dạy vợ dạy thuở bơ vơ mới về
Dã tràng xe cát biển đông
Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì
Ðánh bạc quen tay
Ngủ ngày quen mắt
Ăn vặt quen mồm
Ði một đàng, học một sàng khôn
Ði cho biết đó biết đây
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn
Ðói ăn rau, đau uống thuốc
Ðược làm vua, thua làm giặc
Ðược voi, đòi tiên
Ðứng mũi chịu sào
Gà đẻ, gà cục tác
Ác đẻ ác la
Gần mực thì đen gần đèn thì sáng
Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè
Giàu từ trong trứng giàu ra
Giàu út ăn, khó út chịu
Giặc đến nhà, đàn bà phải đánh
Giọt máu đào hơn ao nước lã
Gối rơm theo phận gối rơm
Có đâu dưới thấp mà chồm lên cao
Phúc bất trùng lai hoạ vô đơn chí
Hùm dữ chẳng ăn thịt con
Khéo ăn thì no, khéo co thì ấm
KHôn cho người ta vái
Dại cho người ta thương
Dở dở ương ương, chỉ tổ cho người ta ghét
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
Khôn ngoan hiện ra mặt
Què quặt hiện ra chưn tay
Khôn thì trong trí lượng ra
Dại thì học lóm người ta bề ngoài
Khôn từ trong trứng khôn ra
Dại dẫu đến già cũng dại
Không ai giàu ba họ
Không ai khó ba đờ
Không thầy, đố mầy làm nên
Kim vàng ai nỡ uốn câu
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời
Lá lành đùm lá rách
Làm anh ăn trước bước đầu
Dạy dỗ em út ngõ hầu thay cha
Lắm con lắm nợ, lắm vợ lắm cái oan gia
Lắm mối tối nằm không
Lắm sãi không ai đóng cửa chùa
Liệu cơm, gắp mắm
Lộn con toán, bán con trâu
Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau
Lưỡi không xương nhiều điều lắt léo
Miệng không vành mó méo tứ tung
Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén
Máu chảy ruột mềm
Môi hở răng lạnh
Mật ngọt chết ruồi
Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp mật, như đường mía lau
Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm khuya tối viếng mới đành dạ con
Miếng ngon là miếng dữ
Miếng cử là miếng lành
Miếng trầu là đầu câu chuyện
Con trâu là đầu cơ nghiệp
Mía sâu có đốt, nhà dột có nơi
Một câu nhịn chín câu lành
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây dụm lại nên hòn núi cao
Một con sâu làm rầu nồi canh
Một miếng giữa đàng bằng một sàng xó bếp
Một miếng khi đói bằng một gói khi no
Mới chuộng, cũ vong
Mua cá thì phải xem mang
Mua bầu xem cuống mới toan không lầm
Muá gậy vườn hoang
Mũi dại lái chịu đòn
Nhà có ngạch, vách có lỗ tai
Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon
Nhất sĩ nhì nông
Hết gạo chạy rông nhất nông nhì sĩ
 |
 |
|
22
|
Người Mặt Sắt |
2,424 |
7th July 2008 - 12:53 PM Bài viết cuối bởi: Người Mặt Sắt |
Sưu tầm Tục ngữ - Ca dao - Dân ca Việt Nam
Từ A => Z
 |
 |
|
3
|
Ngàn Thu Áo Tím |
777 |
30th June 2008 - 11:53 AM Bài viết cuối bởi: Ngàn Thu Áo Tím |
Ai đem con sáo sang sông
Ðể cho con sáo sổ lồng bay cao
Ai đi bờ đất một mình
Phất phơ chiếc áo giống hình phu quân
Ai đi đâu đấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Ai đi đường ấy hỡi ai
Hay là trúc đã nhớ mai đi tìm
Tìm em như thể tìm chim
Chim bay biển Bắc, đi tìm biển Ðông
Ai đi muôn dặm non sông
Ðể ai chứa chất sầu đong vơi đầy
Ai làm cho bướm lìa hoa
Cho chim xanh, nở bay qua vườn hồng
Ai làm cho dạ em buồn
Cho con bướm lụy, chuồn chuồn lụy theo
Ai làm Nam Bắc phân kỳ
Cho hai giòng lệ đầm đìa nhớ thương
Ai về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười
Ai về em gởi bức thơ
Hỏi người bạn cũ bây giờ nơi nao
Non kia ai đắp mà cao
Sông kia, biển nọ ai đào mà sâu
Anh buồn có chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
Anh đã có vợ hay chưa ?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao ?
Ðể em tìm vào hầu hạ thay anh
Anh đi ba bữa anh về
Rừng sâu nước độc anh đừng ở lâu
Anh đi đường ấy xa xa
Ðể em ôm bóng trăng tà năm canh
Nước non một gánh chung tình
Nhớ ai ai có nhớ mình hay chăng
Anh đi em một ngó chừng
Ngó sông sông rộng, ngó rừng rừng sâu
Anh đi, em ở lại nhà
Hai vai gánh vác mẹ già, con thơ
Lầm than bao quản muối dưa
Anh đi, anh liệu chen đua với đời
Anh đi kiệu lộng ba bông
Bỏ em cấy lúa đồng không một mình
Anh thương em trầu hết lá lươn
Cau hết nửa vườn, cha mẹ nào hay
Dầu mà cha mẹ có hay
Nhứt đánh nhì đày, hai lẽ mà thôi
Gươm vàng để đó em ôi
Chết thì chịu chết, lìa đôi anh không lìa
Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em.
Anh về đếm hết sao trời
Em đây kết tóc ở đời với anh
Anh về em chẳng dám đưa
Hai hàng nước mắt như mưa tháng Mười
Anh về để áo lại đây
Ðể khuya em đắp gió Tây lạnh lùng.
Gió lạnh lùng lấy mùng em đắp
Ðể áo anh về đi học kẻo trưa.
Anh về em chẳng cho về
Em níu vạt áo em đề câu thơ
Câu thơ ba chữ rành rành
Chữ trung, chữ hiếu, chữ tình là ba
Chữ trung thì để phần cha
Chữ hiếu phần mẹ đôi ta chữ tình
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu
Cá cắn câu biết đâu mà gở
Chim vào lồng biết thuở nào ra
Bao giờ cạn rạch Ðồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới phai lời nguyền
Bao giờ cây cải làm đình
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta
Bao giờ cho chuối có cành
Cho sung có nụ, cho hành có hoa
Bao giờ chạch đẻ ngọn đa
Sáo đẻ dưới nước, thì ta lấy mình
Bao giờ cho đặng thảnh thơi,
Tay têm thuốc cống, mong mời lang quân
Bao phen lên ngựa ra về
Cầm cương níu lại xin đề câu thơ
Câu thơ ba bốn câu thơ
Câu đợi, câu chờ, câu nhớ, câu mong
Bắp non mà nướng lửa lò
Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm
Bậu buồn, qua dễ chẳng buồn
Cá dưới sông biếng lội, chim trên nguồn biếng bay
Bảy với ba tính ra một chục
Còn tam tứ lục tính lại cửu chương
Liệu bề đáp được thì thương
Ðừng gieo gánh nặng nửa đường bỏ em
Bây giờ mận mới hỏi đào
Vườn hồng đã có ai vào hay chưa ?
Mận hỏi thời đào xin thưa
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào
Bên này sông em bắc cây cầu mười tấm ván
Bên kia sông em lập cái quán mười hai từng
Bán buôn nuôi mẹ cầm chừng đợi anh
Bến em có gốc dừa tơ
Ðêm trăng em đứng em chờ đợi ai
Ba trăng là mấy mươi hôm,
Mai Nam nắng trước, chiều Nồm quạnh sau
Chàng đừng phụ khó tham giàu
Khi lành tôn trượng, khi đau phụ phàng
Bạc sao bạc trắng như vôi
Ðể cho nước chảy hoa trôi lỡ làng
Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì ai cho thiếp biết chàng từ đây
Bạn nghèo thuở trước chớ quên
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình
Bởi anh đành đoạn
Ðốn ngọn cây bần
Không cho ghe cá đậu gần ghe tôm
Thương anh em phải sớm hôm ngóng chờ
Bóng trăng anh tưởng bóng đèn
Bóng cây anh ngỡ bóng thuyền em sang
Bùn xa bèo, bùn khô bèo héo
Lựu xa đào, lựu xéo đào xiên
Vàng cầm trên tay rớt xuống không phiền
Chỉ phiền một nỗi nợ với duyên không tròn
Bước sang canh một anh thắp ngọn đèn vàng
Chờ con bạn ngọc thở than đôi lời
Canh hai vật đổi sao dời
Tính sao nàng tính trọn đời thủy chung
Canh ba cờ phất trống rung
Mặc ai ai thẳng, ai dùn mặc ai
Canh tư hạc đậu cành mai
Sương sa lác đác khói bay mịt mờ
Canh năm tơ tưởng tưởng tơ
Chiêm bao thấy bậu, dậy rờ chiếu không
Bước xuống ruộng sâu, em mang sầu tấc dạ
Tay em ôm bó mạ, luỵ ứa hai hàng
Ai làm lỡ chuyến đò ngang
Cho loan với phượng đôi hàng biệt ly
Bớ người không quen ơi
Nghe anh em cũng muốn thương nhiều
Nhưng hoa đà có chủ, khó chiều dạ anh
Bên kia sông, ai lập kiểng chùa Tân Thiện
Bên này sông, qua lập cái huyện Hà Ðông
Huyện Hà Ðông để cho ông Bao Công xử kiện
Chùa Tân Thiện nhiều kẻ tu hành
Chim kêu dưới suối trên cành
Qua không bỏ bậu, sao bậu đành bỏ qua?
Biết anh thích mắm cá trèn
Nên em chịu khó bẻ thêm đọt xoài
Chớ bông trang trước cửa ai sửa bông trang vàng
Ngày thời chuyện vãn nên tối lại mơ màng thấy em
Cách một khúc sông kêu rằng cách thủy
Sàigon xa, chợ Mỹ không xa
Gởi thơ thăm hết mọi nhà
Trước thăm phụ mẫu sau là thăm em
Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon
Cầm vàng mà lội qua sông
Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng
Cành đào lá liễu phất phơ
Lấy ai thì lấy, đợi chờ nhau chi
Cánh hồng bay bổng trời Thu
Thương con chim, gáy cúc cu trong lồng
Canh khuya thắp chút dầu dư
Tim loan cháy lụn thiếp sầu tư một mình
Cất lên một tiếng la đà
Cho chim nhớ tổ, cho gà nhớ con
Cất lên một tiếng linh đình
Cho loan nhớ phụng, cho mình nhớ ta
Cây trên rừng hoá kiểng
Cá dưới biển hoá long
Con cá lòng tong ẩn bóng ăn rong
Anh đi lục tỉnh giáp vòng
Ðến đây trời khiến đem lòng thương em
Cha mẹ anh có đánh quằn đánh quại
Bắt anh ra treo tại nhành dương
Biểu từ ai, anh từ đặng
Chớ biểu từ người thương, anh không từ
Cha mẹ bú mớm nâng niu
Tội trời đành chịu, không yêu bằng chồng
Ai kêu, ai hú bên sông
Mẹ gọi con dạ, có chồng phải theo
Chàng ơi phụ thiếp làm chi
Thiếp như cơm nguội dành khi đói lòng
Chẳng tham nhà ngói rung rinh
Tham vì một nỗi anh xinh miệng cười
Chàng về cho chóng mà ra
Kẻo em chờ đợi, sương sa lạnh lùng
Chẳng xinh cũng thể đôi ta
Chẳng thơm cũng thể là hoa ngâu tàu
Chàng về để áo lại đây
Ðể khuya em đắp gió Tây lạnh lùng
Chàng về để áo lại đây
Phòng khi em nhớ cầm tay đỡ buồn
Chén tình là chén say sưa
Nón tình anh đội nắng mưa trên đầu
 |
|
|
3
|
Ngàn Thu Áo Tím |
678 |
30th June 2008 - 11:51 AM Bài viết cuối bởi: Ngàn Thu Áo Tím |
Ai về Bình Ðịnh mà coi
Con gái Bình Ðịnh múa roi, đi quyền
Ai đi sục sịch ngoài hàng dưa
Phải chăng chú thợ mộc với cái cưa cái bào
Ai đi sục sịch ngoài hàng rào
Phải chăng chú thợ mộc với cái bào cái cưa
Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu !
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Ðốn tre đẳng gổ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai ?
Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Chiều chiều ra đứng cửa sau
Thương về quê mẹ ruột đau chín chiều
Cá kèo mà gặp mắm tươi
Như nơi đất khách gặp người cố tri
Cái ngủ mày ngủ cho lâu
###### đi cấy ruộng sâu chưa về
Cái ngủ mày ngủ cho say
###### vất vả chân tay suốt ngày
Cơm ăn không hết thì treo
Việc làm không hết thì kêu xóm làng
Ðến đây đất nước lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vẫy vùng cũng lo
Ðến ta mới biết của ta
Trăm nghìn năm trước biết là của ai
Ðông sao thời nắng, vắng sao thời mưa
Gió mùa thu mẹ đưa con ngủ
Năm canh dài thức đủ năm canh
Trắng da vì bởi phấn dồi
Ðen da vì bởi em ngồi chợ trưa
Khi vui non nước cũng vui
Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng buồn
Làm dâu khó lắm em ơi
Nhịn ăn nhịn mặc nhịn lời mẹ cha
Nhịn cho nên cửa, nên nhà
Nên kèo, nên cột, nên xà tầm vông
Nhịn cho nên vợ nên chồng
Rồi em coi sóc lấy trong cửa nhà
Lên non mới biết non cao
Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền
Lưu ly nửa nước nửa dầu
Nửa thương cha mẹ nửa sầu hoạn hương
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Mồng năm, mười bốn, hăm ba
Ði chơi cũng lỗ, lựa là đi buôn
Nàng dâu khôn lanh, nấu canh cho ngọt
Canh sôi hớt bọt, thêm ớt rắc tiêu
Mẹ chồng cay đắng đủ điều
Mẹ ghét cứ ghét, chồng chiều cũng vui
Người trồng cây hạnh người chơi
Ta trồng cây đức để đời về sau
Ơn trời mưa nắng phải thời
Nơi thì cày ruộng nơi thì bừa sâu
Công ơn chẳng quản bao lâu
Ngày nay nước bạc, ngày sau cơm vàng
Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang
Bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu
Sáng trăng trải chiếu hai hàng
Bên anh đọc sách, bên nàng quay tơ
Tháng ba cơm gói ra hòn
Muốn ăn trứng nhạn phải lòn Hang Mai (Hang Khỉ)
Văn thi phú lục chẳng hay
Trở về làng cũ, học cày cho xong
Ngày ngày vác cuốc thăm đồng
Hết nước thì lấy gàu sòng tát lên
Hết mạ ta lại quảy thêm
Hết lúa ta lại mang tiền đi đong
Nữa mai lúa chín đầy đồng
Gặt về đập sảy bỏ công cấy cày
 |
 |
|
1
|
Ngàn Thu Áo Tím |
575 |
30th June 2008 - 11:49 AM Bài viết cuối bởi: Ngàn Thu Áo Tím |
Ai ơi chí ở cho bền
Dù ai đổi hướng xoay nền mặc ai
Dù ai nói Ðông nói Tây,
Ta đây vẫn vững như cây giữa rừng
Ai ơi chơi lấy kẻo già
Măng mọc có lứa người ta có thì
Chơi xuân kẻo hết xuân đi
Cái già sồng sộc nó thì theo sau
Bánh cả mâm, sao em kêu rằng bánh ít ?
Trầu cả chợ, sao em gọi là trầu không?
Trai nam nhi không đối đặng
Gái má hồng xin thử đối xem !
Biết bao gái đẹp như hoa
Vỡ trâm, gãy xuyến, chìm thoa, rơi vàng
Cá bống đi tu
Cá thu nó khóc
Cá lóc nó rầu
Phải chi ngoài biển có cầu
Anh ra ngoài đó giải sầu cho em
Cá bống còn ở trong hang
Lá rau tập tàng còn ở ruộng dâu
Ta về, ta sắm cần câu
Câu lấy cá bống, nấu rau tập tàng
Canh cải mà nấu với gừng
Chẳng ăn thì chớ xin đừng chê bai
Cây khô tưới nước cũng khô
Vận nghèo đi đến xứ mô cũng nghèo
Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng
Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày
Chân đi ba bước lại dừng
Tuổi em còn bé chưa từng đi buôn
Ði buôn cho đáng đi buôn
Ði buôn cau héo có buồn hay không
Chiều chiều con quạ lợp nhà
###### chẻ lạt, con gà đưa tranh
Chèo bẽo nấu cơm nấu canh
Chìa vôi đi chợ mua hành về nêm
Chiều chiều én liệng trên trời
Rùa bò dưới đất, khỉ ngồi trên cây
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ người aó trắng khăn điều vắt vai
Chiều chiều ông chánh về Tây
Cô ba ở lại lấy thầy Thông Ngôn
Thông ngôn, ký lục bạc chục không màng
Lấy chồng thợ bạc đeo vàng đỏ tay
Chiều chiều ông Lã Ðồng Tân
Vai mang bầu rượu, tay cầm chiếc nem
Chiều chiều ra đứng gốc cây
Trông chim bay lượn, trông mây lưng trời
Trông xa xa tít xa vời
Những non cùng nước, những đồi cùng cây
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều
Chiều chiều trước bến Văn Lâu
Ai ngồi ai câu ai sầu ai thảm
Ai thương ai cảm ai nhớ ai trông
Thuyền ai thấp thoáng bên sông
Ðưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non
Chiều chiều xách giỏ hái rau
Ngó lén mã mẹ ruột đau như dần
Chim bay về núi tối rồi
Sao không lo liệu còn ngồi chi đây ?
Chim chìa vôi bay ngang đám thuốc
Cá bãi trầu lội tuốt mương cau
Chim chuyền nhành ớt líu lo
Mảng sầu con bạn, ốm o gầy mòn
Chim còn mến cội mến cành
Anh đây cũng biết nghĩa sinh thành công lao
Chim quyên xuống đất ăn trùng
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than
Chim quyên xuống suối tha mồi
Thấy em lao khổ, anh ngồi sao yên
Chim trời ai dễ đếm lông
Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày
Chờ em biết đến bao giờ
Vạc kêu sườn núi, trăng mờ đầu non
Cho hay tiên lại tìm tiên
Phượng hoàng đâu dám sánh duyên đàn gà
Chơi hoa cho biết mùi hoa
Cầm cân cho biết cân già, cân non
Chơi trăng từ thuở trăng tròn
Chơi hoa từ thuở hoa còn trên cây
Chồng chê thì mặc chồng chê
Dưa khú nấu với cá trê càng bùi
Chồng cô, vợ cậu, chồng dì
Trong ba người ấy chết thì không tang
Cây xanh lá đỏ hoa vàng
Hạt đen rễ trắng đố chàng là chi
(Cây rau sam)
Ðánh chết, mà nết không chừa
Ðến mai ăn chợ, bánh dừa lại ăn
Ðàn bà goá như cá nấu canh
Ðã có bỏ hành, còn thêm tiêu ớt
Ðàn bà tốt tóc thì sang
Ðàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu
Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi
Ðàn ông đi biển có đôi
Ðàn bà đi biển mồ côi một mình
Ðàn ông không râu vô nghì
Ðàn bà không vú lấy gì nuôi con
Ðêm khuya trăng dọi lầu son
Vào ra thương bạn, héo hon ruột vàng
Bển qua đây đàng đã xa đàng
Dầu tui có lâm nguy thất thế
Hỏi con bạn vàng nó cứu không?
Chiều rồi kẻ Bắc, người Ðông
Trách lòng người nghĩa, nói không thiệt lời
Ði đâu mà vội mà vàng
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây
Thủng thỉnh như chúng anh đây
Thì đá đâu vấp, dây đâu mà quàng
Ðố anh con rít mấy chưn
Cầu Ô mấy nhịp, chợ Bưng mấy người
Mấy người bán áo con trai
Chợ trong bán chỉ, chợ ngoài bán kim
Gan teo mấy đoạn, ruột thắt mấy từng
Mình bảy buôi lỗ miệng đặng cầm chừng xa tui
Gái lấy trai đứng là gái dại
Trai lấy rồi trai lại bán rao
Gái đâu có thứ hỗn hào
Trai chưa làm rể, gái vào làm dâu
Già thì đặc bí bì bì
Con gái đương thì rỗng toác toàng toang
Ngoài xanh trong trắng như ngà
Ðàn ông cũng chuộng, đàn bà cũng yêu
(Ðố là gỉ - cau dầy)
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu đời đắng cay
Gió đưa gió đẩy bông trang
Bông búp về nàng, bông nở về anh
Gió đưa liễu yếu, mai quằn
Liễu yếu mặc liễu, mai quằn mặc mai
Gió đưa trăng thì trăng đưa gió
Con trăng lặn rồi gió biết đưa ai ?
Bình bồng ở giữa Giang Tân
Bên tình bên nghĩa, biết phân bên nào
Củi đậu nấu đậu ra dầu
Cưới em không đặng anh cạo đầu đi tu
Dõi dõi theo anh
Về nơi Châu thành
Coi nam thanh nữ tú
Ở chi đất này vượn hú chim kêu
Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Giữa canh khuya nghe tiếng ai thỏ thẻ bên thuyền
Hỏi thăm quân tử vượt biên nơi nào ?
Làm người ai muốn cùi đui
Phải sao chịu vậy, không vui chẳng buồn
Má ơi đừng gả con xa
Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu
Màn hoa lại trải chiếu hoa
Bát ngọc thì phải đũa ngà, mâm son
Mày thì cong tợ trăng non
Mặt thuôn trứng ngỗng ngó mòn lông nheo
Mạch trong nước chảy ra trong
Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn
Mây xưa cũng bỏ non về
Em xưa cũng giã câu thề đó đây
Nhớ đành biết mấy tầm tay
Chim bay biển Bắc hoa gầy bãi Ðông
Mười năm lưu lạc giang hồ
Một ngày tu tỉnh, cơ đồ lại nên
Một lo đứng cửa trông ra
Hai lo đi lấy chồng xa nước người
Ba lo sợ chị em cười
Bốn lo đi ngược, về xuôi sao đành
Năm lo lúc tử, lúc sinh
Sáu lo con gái một mình đường xa
Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà
Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi
Chín lo em thiệt cả mười
Ðể em kiếm lối tìm nơi đi về
 |
 |
|
1
|
Ngàn Thu Áo Tím |
637 |
30th June 2008 - 11:48 AM Bài viết cuối bởi: Ngàn Thu Áo Tím |
Ai ơi chớ nghĩ mình hèn
Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong
Cười người chớ vội cười lâu
Cười người hôm trước hôm sau người cười
Ai ơi chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành
Ai ơi đã quyết thì hành
Ðã đốn thì vác cả cành lẫn cây
Ai ơi đã quyết thì hành
Ðã đan thì lận, tròn vành mới thôi
Bạn bè là nghĩa tương tri
Sao cho sau trước vẹn bề mới nên
Bạn nghèo thuở trước chớ quên
Vợ cùng kham khổ, chẳng nên phụ tình
Bàn tay còn có ngón dài, ngón vắn,
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn cũng phải hay
Bao giờ cá Lý hóa Long
Ðền ơn cha mẹ ẵm bồng ngày xưa
Bầu ơi thương lấy bí cùng
Tuy rằng khác giống, nhưng chung một giàn
Cách sông mới phải luỵ thuyền
Còn như đường liền ai phải luỵ ai
Cây xanh thời lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con
Mừng cây rồi lại mừng cành
Cây đức lắm chồi, người đức lắm con
Ba vuông sánh với bảy tròn
Ðời cha vinh hiển đời con sang giàu
Có làm thì mới có ăn
Khi không ai dễ đem phần tới cho
Chim khôn chưa bắt đã bay
Người khôn chưa nói dang tay đỡ lời
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe
Chim khôn lót ổ, lựa chỗ nhiều cành
Gái khôn lựa chỗ trai lành gởi thân
Chim khôn tránh lưới, tránh dò
Người khôn tránh chốn hồ đồ, xa hoa
Chồng giận thì vợ bớt lời
Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười chúm chím: Thưa anh giận gì
Thưa anh, anh giận em chi
Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho
Cờ bạc là bác thằng bần
Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm
Con cá không ăn câu
Nghĩ rằng con cá dại
Xách câu về nhà
Nghĩ lại con cá khôn
Con quốc khắc khoải mùa hè
Làm thân con gái phải nghe lời chồng
Sách cho chữ rằng: phu xướng phụ tòng
Làm thân con gái lấy chồng xuất gia
Lấy em về thờ mẹ kính cha
Thờ cha kính mẹ ấy là người ngoan
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Một lòng thờ mẹ kính cha
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con
Công danh theo đuổi mà chi
Sao bằng chăm chỉ giữ nghề canh nông
Sớm khuya có vợ có chồng
Cày sâu, bừa kỹ mà mong được mùa
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
Cu kêu từng cặp trên cây
Tào khương nghĩa nặng, sao đành bỏ nhau
Cũ người thì lại mới ta
Người chê rách rưới, ta cho là gấm nhung
Cứ trong nghĩa lý luân thường
Làm người phải giữ kỹ cương mới mầu
Ðừng cậy khoẻ, chớ khoe giầu
Trời kia còn ở trên đầu, còn kinh
Phấn son tô điểm sơn hà
Làm cho rỡ mặt đàn bà nước Nam
Phượng hoàng ở chốn cheo leo
Sa cơ lỡ vận phải theo đàn gà
Bao giờ gió thuận mưa hòa
Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng
Tiền trao cháo múc
Không tiền cháo trút trở ra
Tin nhau buôn bán cùng nhau
Thiệt hơn, hơn thiệt, trước sau như lời
Thay gì lừa đảo kiếm lời
Một nhà ăn uống, tội trời riêng mang
Theo chi những thói gian tham
Pha phôi thực giả tìm đường dối nhau
Của phi nghĩa có giàu đâu
Ở cho ngay thật giàu sau mới bền
Trời sinh ra đã làm người
Hay ăn, hay nói, hay cười, hay chơi
Khi ăn thì phải lựa nồi
Khi nói, thì phải lựa lời chớ sai
Cả vui chớ có vội cười
Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì
 |
 |
|
35
|
Bé Siêu Nhân |
2,672 |
26th June 2008 - 12:56 PM Bài viết cuối bởi: Bé Siêu Nhân |
Trạng Quỳnh
Truyện cười dân gian Việt Nam
|
|
|