Chúng tôi sống trong ngôi nhà phía sau, không nhìn thấy được đường phố: cửa sổ sau hướng ra bức tường đá xám của thành phố, cửa sổ trước nhìn qua sân hướng thẳng vào nhà bếp và buồng tắm của ngôi nhà phía trước. Những căn hộ trong ngôi nhà trước rộng rãi và thoải mái trong khi căn hộ của chúng tôi chật chội và trông thật vô duyên. Những phụ nữ trong ngôi nhà trước ở trong những căn phòng gọn gàng, trên tầng cao nhất nhìn xuống chóp nhọn của nhà thờ thánh Etienne, nhưng dưới mái hiên của ngôi nhà chúng tôi những phòng ngủ cửa mở toang trong bóng tối hướng vào dãy hành lang rỉ sét. Sinh viên và những anh chàng độc thân nghèo ngủ ở đó dùng chung phòng vệ sinh và cả cầu thang. Nhiều khách trọ trong căn nhà trước là viên chức cao cấp, nhà phía sau là những chủ hiệu, người chào hàng, nhân viên bưu chính về hưu và giáo viên độc thân. Tất nhiên, chúng tôi không thể trách những người ở ngôi nhà trước về sự sung túc của họ, nhưng cũng cảm thấy bị bức xúc vì cảnh ấy, vẫn cảm nhận có cái gì khang khác. Dẫu vậy đây không phải là lý do giải thích đầy đủ cho sự khó chịu xưa nay vẫn tồn tại giữa hai ngôi nhà.
Tôi thường ngồi bên cửa sổ lúc hoàng hôn, dõi mắt nhìn trời, lắng nghe những âm thanh từ những con người phía bên kia. Thời gian trôi qua, những chú chim bồ câu đậu lại trên cửa sổ mái nhà, dòng xe cộ bóp nghẹt con phố nhỏ bên kia giảm bớt đi và truyền hình trong các căn hộ lấp đầy thinh không với những giọng nói và âm thanh đầy bạo lực. Chốc chốc, tôi lại nghe tiếng nắp thùng rác vang lên từ dưới sân, rồi thoáng có bóng người mang chiếc thùng nhựa rỗng vào một trong những ngôi nhà.
Thùng rác trước giờ vẫn luôn là nguồn xấu hổ của những người khách trọ phía trước nhưng giờ đây bầu không khí đã khiến họ ngại đi đổ rác. Họ không bước ra sân nếu thấy có người khác hiện diện ở đấy. Tôi thấy bóng họ ở ô cửa trước nhà lúc họ chờ đợi. Thấy không có ai trong sân, họ trút thùng rác và bước nhanh qua những viên đá lót đường mong không ai bắt gặp họ ở đấy một mình. Một số các bà lớn tuổi trong ngôi nhà phía trước cùng đi xuống với nhau, từng cặp.
Vụ giết người xảy ra cách đây gần 1 năm mang vẻ hiếu kỳ vô hại. Kẻ giết người là một người đàn ông đáng kính, đã có gia đình, sống trong ngôi nhà của chúng tôi và người phụ nữ nạn nhân là một trong những số ít những người tử tế sống trong ngôi nhà phía trước. Quả thực, bà là một trong nhưng người thường kết giao với những người trong ngôi nhà đàng sau. Ông Martin không có lý do gì để giết bà. Tôi chỉ có thể nghĩ ra được là ông ta bị khùng do thất vọng, nhiều năm ông từng muốn sống trong ngôi nhà phía trước và càng ngày ông càng thấy rõ là điều đó là vô vọng.
Trời nhá nhem tối, các cánh cửa chớp đang được khép lại. Tôi đứng bên cửa sổ, thấy hai người gặp nhau trên sân cạnh mấy chiếc thùng rác. Có lẽ bà ấy nói gì điều gì đấy với ông ta, hoàn toàn trong sáng và thân thiện, tuy nhiên sự việc lại khiến ông lại nhận ra mình khác với người đàn bà và những người trong ngôi nhà phía trước tới mức nào. Lẽ ra bà không nên nói gì với ông ấy -- những người bên kia hầu như chẳng mấy ai chuyện trò với chúng tôi.
Ông vừa mới đổ rác trong thùng xong thì bà đến. Bà có nét gì đấy thật duyên dáng đến nỗi dù đang khuân chiếc thùng vẫn mang dáng dấp quý phái. Tôi cho rằng ông thấy chiếc thùng của bà thật đều, dù cũng môt loại thùng nhựa màu vàng thông thường như của ông, nó lại trông có vẻ sáng hơn, rác trong ấy cũng có vẻ nhiều màu sắc hơn rác trong thùng của ông. Có lẽ ông chú ý thấy chiếc áo của bà sạch sẽ và mát mẻ làm sao, nó dịu dàng quàng lấy đôi chân đẹp, mạnh khỏe của bà. Ông nhận ra được cái mùi ngọt ngào phảng phất từ chiếc áo ấy lẫn cái nước da sáng của bà trong ánh chiều muộn. Đôi mắt bà ánh lên vẻ cuồng nhiệt của cái hạnh phúc mà bà đang thụ hưởng, mái tóc bà lấp lánh màu bạc, phồng lên dưới những chiếc kẹp. Ông vừa cúi xuống cào rác bên trong thùng bằng con dao cùn thì bà bước ra lướt trên những viên đá lót đường tiến về phía ông.
Lúc ấy trời tối quá, đến nỗi đập vào mắt ông đầu tiên chỉ có cái màu trắng của chiếc váy. Ông im lặng, một cách cẩn trọng và lịch sự - ông chưa bao giờ nói chuyện với người nào ngôi nhà bên kia -- nhanh chóng lẩn tránh ánh mắt của bà. Nhưng không còn kịp nữa, bà đã đáp lại ánh mắt ấy và mở lời.
Có lẽ bà đã nói điều gì đấy một cách hờ hững chẳng hạn như nhận xét về một buổi tối êm đềm nhẹ nhàng. Nếu bà không cất tiếng, có lẽ ông đã không mất tự chủ vì cái âm thanh dịu dàng qua giọng nói của bà. Nhưng trong một thoáng ấy, hẳn ông đã nhận ra rằng buổi tối với ông chưa từng bao giờ được êm đềm như với bà. Hoặc giả, trong giọng nói của bà có cái vẻ gì quá đỗi tử tế, có cái vẻ hạ cố đủ để khiến ông nhận ra mình buộc phải lưu lại ở vị trí của mình. Tất cả những điều ấy khiến ông không còn có thể kiểm soát mình nữa. Ông đứng bật dậy, như có cái gì trong ông đã vào sẵn vị trí và chỉ bằng một nhát, ông đâm con dao vào cổ bà.
Tôi chứng kiến từ phía trên. Sư việc xảy ra thật nhanh và lặng lẽ. Tôi không làm gì cả. Trong một lúc, thậm chí tôi không hiểu ra được điều mình đã thấy được, cuộc sống bình lặng ở đây đã hầu như lấy đi của tôi cái khả năng phản ứng. Nhưng cũng có điều đáng chú ý trong cảnh tượng ấy: ông là một người khỏe mạnh , cường tráng, một thợ săn đầy kinh nghiệm và bà thì thật mỏng manh, yêu kiều như một chú hươu. Động tác của ông mang vẻ đẹp cổ điển và bà đã đổ sập xuống trên bờ lề, lặng lẽ như sương sớm tan đi trên mặt hồ. Ngay cả lúc tôi có thể suy nghĩ trở lại, tôi cũng chẳng làm được điều gì.
Trong khi tôi quan sát, một vài người đến cửa sau của ngôi nhà phía trước và chiếc cửa trước của nhà chúng tôi, họ chững lại với thùng rác trên tay khi thấy bà nằm ở đó và ông thì đứng bất động phía trên. Dưới chân ông là chiếc thùng rác, được cạo vét sạch sẽ, tay bà vẫn còn nắm chặt chiếc tay cầm và rác đã vương vải trên các tảng đá bên cạnh bà, điều lạ lùng và gây choáng cho chúng tôi y như chính vụ án mạng. Mỗi lúc một có thêm khách trọ tụ tập, đứng nhìn từ lối đi. Môi họ đang động đậy nhưng tôi chẳng nghe thấy gì vì tiếng ồn của mấy chiếc máy truyền hình chung quanh.
Tôi cho rằng sở dĩ không ai có phản ứng gì ngay do là vụ án mạng đã xảy ra tại địa giới không-của-ai-cả. Nếu nó xảy ra trong nhà của chúng tôi hay nhà của họ, người ta đã có biện pháp: có thể chậm rãi trong nhà chúng tôi và nhanh chóng trong nhà của họ. Nhưng sự thể là người ta đầy hoài nghi: những người trong ngôi nhà phía trước ngại hạ mình tới mức dây vào sự việc nầy và những người trong nhà chúng tôi lại ngại đảm nhận trách nhiệm tới mức ấy. Rốt cuộc chính người gác dan lại xử lý công việc. Xác người xấu số được công ty mai táng đem đi và ông Martin được cảnh sát quản lý. Sau khi đám đông giải tán, người gác dan dọn dẹp đống rác vương vãi rửa sạch những viên đá lót đường và trả lại mấy chiếc thùng rác cho từng nhà.
Chừng một hai ngày, những người trong hai ngôi nhà rõ ràng là bị chấn động. Người ta bàn tán trong tiền sảnh, trong nhà những giọng nói giống như gió xuyên qua cây lá trước cơn bão, trong nhà họ, những âm tiết đầy tự tin tuôn ra bất tận. Cuộc gặp gỡ giữa những người khách trọ hai ngôi nhà trở nên mang tính bạo lực hơn; người trong nhà chúng tôi ngoảnh mặt, hất hàm quay đi khi gặp những người bên kia ngoài phố và có cái vẻ gì đấy trên khuôn mặt của chúng tôi khiến những cuộc nói chuyện bị cắt ngắn khi chúng tôi tiến vào tầm có thể nghe được câu chuyện của họ.
Nhưng khi tiền sảnh im lặng trở lại và trong một khảng thơig gian, dường như chẳng có gì thay đổi nhiều. Có lẽ sự cố nầy nằm ngoài sự hiểu biết của chúng tôi nên không ảnh hưởng gì, tôi nghĩ vậy. Điều khác biệt duy nhất dường như là cái nhìn trống rỗng trên khuôn mặt những người trong ngôi nhà như thể chúng đã tan biến vào trong cơn sốc. Nhưng dần dà, tôi bắt đầu nhận ra rằng sự việc đã để lại một ấn tượng sâu sắc. Sự mất lòng tin ngập tràn không khí cùng với nỗi bất an. Những người trong ngôi nhà phía trước e ngại chúng tôi và giờ đây không còn mối liên lạc nào nữa. Giết chết người phụ nữ ngôi nhà phía trước, ông Martin đã hủy hoại thêm một thứ: chúng tôi đã mất đi những dấu vết cuối cùng của lòng tự trọng trước những con người kia, vì lẽ chúng tôi mặc nhiên nhận lấy trách nhiệm về tội ác đó. Giờ đây không còn lý do gì để chúng tôi phải giả vờ nữa. Sự thật là một số người không bị ảnh hưởng và tiếp tục khoác lấy những tấm vải nhân cách tơi tả một cách tự hào. Nhưng hầu hết những người trong ngôi nhà phía sau đều đã thay đổi.
Cô y tá đêm sống bên kia đối diện với tôi, sáng nào cũng đi làm về, tôi thường tỉnh giấc nghe chùm chìa khóa sắt nặng nề chạm vào cách cửa gỗ kêu loảng xoảng, tiếng chiếc chìa khóa kêu cách cách trong ổ khóa. Cuối buổi chiều, cô thường lại ra đi loay hoay ở chiếu nghỉ, trên những tấm đệm lót bằng vải, phủi bụi trên lan can . Giờ đây cô ngồi sau cánh cửa nghe radio, ho nhè nhè. Chị Lamartine, người thường để cửa mở hé, lắng nghe các câu chuyện trên diễn ra trên lối đi, đôi khi cảm thấy bị hấp dẫn đến nỗi chìa chiếc mủi qua khe hở, đưa ra một vài lời nhận xét, bây giờ cũng mất tăm ngoại trừ lúc cô ra ngoài với chiếc khăn voan màu xanh phủ lên đầu vào sáng sớm ngày Chủ Nhật có lễ Mass, . Người hàng xóm của tôi trên tầng hai, Bà Bac để đồ giặt ra ngoài trong mọi thời tiết cho đến lúc mùi chua bay vào tận chỗ tôi ngồi. Nhiều người ở trọ không còn giặt chiếu lau chân. Người ta cảm thấy xấu hổ về quần áo của mình và khoát áo mưa khi họ ra ngoài. Mùi ẩm ướt ngập lối đi, những chú bé giao hàng và những người chào hàng sờ soạng tìm đường lên xuống thang gác không có vẻ thoải mái. Tệ hại nhất là mọi người trở nên cáu kỉnh và ti tiện: chúng tôi không còn chuyện trò, kể chuyện cho những người ngoài cuộc và để lại những vết bùn đất trên chiếu nghỉ chân của nhau.
Cũng thật lạ kỳ nhiều nhà trong thành phố cũng gặp phải những mối quan hệ xấu như chúng tôi: lúc nào cũng có sự thỏa hiệp miễn cưỡng giữa hai ngôi nhà cho đến khi sư cố làm nổ tung và tình hình bắt đầu trở nên tồi tệ. Người trong ngôi nhà trước khóa chặt mình trong cái nhân cách lạnh lùng và những người trong ngôi nhà sau mất lòng tự tin, khuôn mắt họ xám đi vì hổ thẹn.
Gần đây tôi phát hiện mình suýt ném hạt táo xuống sân và nhận ra mình đã bị nhấn chìm bởi ảnh hưởng của ngôi nhà phía sau đến mức nào. Những tấm kính cửa sổ phòng tôi trở nên mờ và những nét hoa văn của làn bụi đất ghi dấu lại trên viền của tấm ốp tường. Nếu tôi không rời đi bây giờ thì sẽ không còn có thể gắng gượng được bao lâu nữa chẳng. Tôi phải thuê một căn hộ ở một khu khác trong thành phố và thu vén các thứ của mình.
Tôi biết rằng khi đến chào những người láng giềng, những người tôi đã khá hòa hợp, một số người sẽ không mở cửa và những người khác thì nhìn tôi như thể họ chưa từng quen biết. Nhưng sẽ có một vài người có thể thu góp cái tinh thần bất khuất xưa cũ và niềm kiêu hảnh sổ sàng để bắt tay và chúc tôi may mắn.
Cái vẻ tuyệt vọng trong mắt họ sẽ khiến tôi cảm thấy hổ thẹn về sự ra đi của mình. Nhưng tôi không còn cách nào khác để giúp họ. Trong bất kỳ trường hợp nào, tôi ngờ rằng vài năm sau mọi việc sẽ trở lại bình thường. Thói quen sẽ khiến những người ở đây lấy lại được sự ngăn nắp tạm bợ, những câu chuyện phiếm cay chua về số người trong ngôi nhà đàng trước, sự tiết kiệm trong những cuộc mua sắm nhỏ nhặt, sự hòa nhã nơi nào không có hiểm nguy. Và khi những người trong hai ngôi nhà chuyển đi và được thay thế bởi những người khác, toàn bộ câu chuyện sẽ dần dần được tiếp nhận và lãng quên. Rốt cuộc, những nạn nhân duy nhất sẽ chỉ là bà Martin, bản thân ông Martin và người phụ nữ dịu dàng đã bị ông hạ sát.
Cách đây đã lâu, tôi có dịp đi thuyền trên sông Sibiri ảm đạm vào một đêm thu tối trời. Đến khúc sông ngoặt, đột nhiên ở phí trước, dưới những dãy núi tối om, vụt lóe lên một đám lửa nhỏ.
Đốm lửa lóe sáng, chói lọi, rõ thật gần...
- Chà, lạy Chúa! - Tôi sung sướng thốt lên - sắp được nghỉ đêm rồi!
Người lái đò ngoái lại nhìn đốm lửa và lại thản nhiên ra sức đẩy tay chèo
- Còn xa khướt!
Tôi không tin: thì đốm lửa vẫn đây kia, nhoi hẳn ra khỏi bóng đêm mung lung. Nhưng người lái đò hóa ra lại đúng: quả là còn xa thật
Những đốm lửa đêm vốn dĩ như vậy đó. Cứ lấn át bóng đêm mà tiến lại gần, cứ lóe sáng lên, cứ hẹn, cứ làm như ở ngay đó gần gặn mà mồi chài. Có cảm giác rằng, chỉ hai ba chèo nước nữa - thế là đường dài tới đích...Vậy mà - còn là xa!...
Và đêm ấy chúng tôi còn phải bơi thuyền mãi trên dòng sông tối om như mực. Những đốm lửa nhỏ vẫn như gần mà vẫn cứ xa...lập lòe mời nhử.
Giờ đây tôi thường hay nhớ lại dòng sông tối om giữa đôi bờ núi đã che trùm với đốm lửa nhỏ sống động đêm ấy. Cả trước đây cũng như sau này có biết bao nhiêu đốm lửa khác cũng đem cái vẻ gần gặn của mình ra mà mồi nhử huyễn hoặc không phải chỉ riêng một mình tôi. Nhưng cuộc sống vẫn trôi đi giữa đôi bờ ảm đạm ấy, còn những đốm lửa vẫn cứ mãi xa xăm và đành lại phải ráng sức dấn thêm tay chèo...
Nhưng dù sao...dù sao đi nữa ở phía trước - vẫn là những đốm lửa!
Cách đây nhiều năm, một thanh niên tên Giovani Gosconti rời nhà ở Naples đến học tại Bắc Ý. Anh thuê một căn phòng nhỏ trên tầng áp mái của một tòa nhà cổ xưa và tối tăm. Còn hiện nay thì một bà già tên là Lisabeta cho các sinh viên ở trường Đại học Padua thuê phòng.
Phòng của Giovani có một khung cửa sổ nhỏ. Từ đó anh có thể nhìn thấy một khoảng vườn rộng lớn đầy dẫy cây cối và hoa.
"Khu vườn của bà phải không ạ?", một ngày nọ anh hỏi bà Lisabeta.
"Ồ, không", bà ta nhanh nhẩu đáp. "Chủ của ngôi vườn này là một vị bác sĩ nổi tiếng tên Jacomo Rapechini. Người ta nói ông ấy sử dụng những cây ấy để chế ra nhiều loại thuốc kỳ lạ lắm. Ông ấy sống với cô con gái tên Beatrice trong căn nhà nâu nhỏ trong vườn.
Giovani thường ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn khu vườn. Anh chưa bao giờ thấy nhiều loại cây cối khác nhau đến thế. Chúng đều có những cái lá xanh to lớn và những bông hoa tuyệt đẹp trong mỗi màu sắc của cầu vồng. Cái cây mà Giovani ưa thích mọc trong một cái chậu cẩm thạch trắng ở gần căn nhà. Nó được phủ đầy những đóa hoa lớn màu tím.
Một ngày kia, khi đang nhìn qua khung cửa sổ, Giovani thấy một ông già trong chiếc áo choàng đen đi vào vườn cây. Ông già cao và ốm. Khuôn mặt ông trông có vẻ vàng vọt, bệnh hoạn. Đôi mắt đen của ông thật lạnh lùng. Ông già mang đôi găng tay dày và mang khẩu trang che miệng và mũi. Ông thận trọng đi giữa đám cây cối như thể đang đi giữa bầy thú dại hay lũ rắn độc. Mặc dù, ông già đang ngắm nhìn những bông hoa nhưng ông không hề sờ vào hoặc ngửi bất kỳ một bông hoa nào cả. Khi đến cây có bông hoa tím lớn, ông dừng lại, cởi khẩu trang ra và gọi lớn: "Beatrice, hãy ra đây giúp cha này!".
"Vâng, con sẽ đến ngay. Cha muốn gì ạ?", một giọng nói trẻ trung và ấm áp từ trong nhà đáp lời ông. Một thiếu nữ trẻ bước vào vườn cây. Mái tóc cô đen dày xõa thành lọn xuống bờ vai. Má cô ửng hồng với đôi mắt to và đen. Trông cô tràn đầy sức sống, khỏe mạnh và đầy nghị lực khi cô bước dọc theo những hàng cây. Giovani nghĩ rằng nàng xinh đẹp giống như những đóa hoa tím trong chậu cẩm thạch kia. Ông già nói điều gì đó với cô. Cô gật đầu, sờ và ngửi những đóa hoa mà cha cô đã cẩn thận tránh xa.
Nhiều tuần sau đó, Giovani đi thăm Pietro Bajioni, một người bạn thân của cha anh. Giáo sư Bajioni dạy môn dược học ở trường đại học. Trong buổi viếng thăm, Giovani có hỏi thăm về bác sĩ Rapechini.
"Ông ấy là một nhà khoa học lớn", giáo sư Bajioni đáp, "Nhưng ông ấy cũng là một người nguy hiểm". "Tại sao?" - Giovani hỏi.
Ông già chậm rãi lắc đầu. "Bởi vì Rapechini chuyên tâm nhiều về khoa học hơn là quan tâm đến con người. Ông đã chế nhiều loại thuốc độc kinh khủng từ những cái cây trong vườn đó. Ông ấy nghĩ rằng ông có thể chữa trị các chứng bệnh bằng thuốc độc. Điều đó đúng. Đã nhiều lần ông chữa trị cho những bệnh nhân mà mọi người nghĩ rằng sẽ phải chết. Nhưng thuốc của Rapachini cũng đã giết chết nhiều người. Tôi nghĩ ông ta sẽ hy sinh bất cứ sinh mạng nào, thậm chí ngay cả chính ông ta cho một trong các cuộc thí nghiệm của mình.
"Nhưng còn cô con gái của ông ta thì sao?" - Giovani hỏi.
"Tôi chắc rằng ông ta rất thương con". Người giáo sư già mỉm cười nói với chàng trai. "Thế đấy!", ông nói "Cậu đã nghe về Beatrice. Người ta nói cô ấy rất xinh đẹp. Nhưng hiếm người ở Padua gặp được cô ta. Cô ta không bao giờ rời khỏi khu vườn của cha mình".
Giovani rời khỏi nhà giáo sư Bajioni vào lúc mặt trời lặn. Trên đường về, anh ghé lại một cửa hàng bán hoa để mua vài đóa hoa tươi.
Anh trở về căn phòng của mình và ngồi bên cửa sổ. Còn sót lại một ít nắng chiều. Khu vườn yên tĩnh. Những bông hoa tím trên cái cây mà Giovani ưa thích dường như rực rỡ hơn trong cái nắng nhạt của chiều tà. Rồi có người chạy ra lối đi của ngôi nhà nâu nhỏ. Đó là Beatrice. Cô đi vào vườn và bước dọc theo cây cối. Cô cúi xuống sờ những cái lá của cây hay ngửi một bông hoa. Người con gái của Rapechini dường như xinh đẹp hơn với mỗi bước đi. Khi đến cái cây hoa tím, cô vùi mặt vào trong những cánh hoa. Giovani nghe cô hỏi: "Hãy cho chị hơi thở, cô em của chị. Không khí bình thường làm chị yếu ớt quá. Và hãy cho chị một trong những bông hoa đẹp của em".
Beatrice dịu dàng ngắt một trong những đóa hoa lớn nhất. Khi cô nâng nó lên để cài vào mái tóc đen, vài giọt nhựa từ cành hoa rơi xuống đất. Một trong những giọt đó rơi xuống đầu con thằn lằn nhỏ bò gần chân của Beatrice. Trong một thoáng con thằn lằn giãy giụa mạnh mẽ. Rồi nó không nhúc nhích gì nữa.
Beatrice dường như chẳng ngạc nhiên gì. Cô thở dài và cài cành hoa lên tóc. Giovani nhướn người ra cửa sổ để nhìn thấy cô rõ hơn. Ngay lúc đó, có một con bướm xinh đẹp bay qua bức tường của khu vườn. Nó dường như bị hấp dẫn bởi Beatrice và bay quanh trên đầu cô. Rồi đôi cánh của con côn trùng ấy dừng lại, nó rơi xuống đất, chết ngay. Beatrice lắc đầu buồn bã. Bỗng nhiên cô nhìn lên khung cửa sổ của Giovani, và thấy một chàng trai trẻ đang nhìn mình. Giovani nhặt lên những cánh hoa anh đã mua và ném nó về hướng cô.
"Cô bạn trẻ", anh nói, "Hãy nhận những đóa hoa này như quà tặng của Giovani nhé!".
"Xin cảm ơn!", Beatrice trả lời. Cô nhặt những đóa hoa ấy lên và nhanh chóng chạy vào nhà. Cô dừng lại ngay cửa một lúc và e lệ vẫy chào Giovani. Nếu anh không lầm, thì dường như những cánh hoa của anh đang bắt đầu ngả màu nâu trong tay cô ấy.
Trong nhiều ngày, chàng trai trẻ tránh xa khung cửa sổ nhìn xuống khu vườn của Repechini. Anh ước chi mình đã không nói chuyện với Beatrice vì giờ đây anh th- của cậu đã thay đổi từ lần cuối cùng chúng ta gặp nhau".
Đó là một sự thật. Giovani đã trở nên rất ốm. Gương mặt anh trắng bệch và đôi mắt thường cháy lên cơn sốt. Khi họ dừng lại nói chuyện, một người mặc áo đen dài bước xuống phố. Ông ta đi đứng chậm chạp như một người ốm yếu. Gương mặt ông ta vàng vọt, nhưng đôi mắt thì đen và sắc. Đó là người mà Giovani đã trông thấy trong khu vườn. Khi vượt qua họ, người đàn ông gật đầu chào giáo sư Bajioni một cách lạnh nhạt, nhưng ông nhìn Giovani với nhiều chú tâm.
"Đó là bác sĩ Rapechini", giáo sư Bajioni thì thầm khi ông đi qua. "Ông ta đã khi nào thấy mặt cậu chưa?".
Giovani lắc đầu: "Chưa, tôi nghĩ rằng chưa".
Giáo sư Bajioni có vẻ lo lắng: "Tôi nghĩ là trước đây ông ta đã thấy cậu. Tôi biết cái nhìn lạnh lẽo của ông ta. Ông ta nhìn giống như cách ông ta xem xét một con vật mà ông ta đã giết trong phòng thí nghiệm của mình. Giovani, tôi xin đem mạng sống của mình ra đặt cược, rằng cậu đang là một đối tượng trong những thí nghiệm của Rapechini".
Giovani bước xa ông già: "Bác đùa à!", anh nói. "Không, tôi nói nghiêm chỉnh đấy". Người giáo sư nắm cánh tay Giovani. "Hãy cẩn thận, anh bạn trẻ của tôi. Anh đang ở trong tình trạng nguy hiểm ghê gớm đấy".
Giovani kéo tay ra: "Tôi phải đi đây. Chào bác nhé!".
Khi Giovani vội vã về phòng, anh cảm thấy bối rối và hơi sợ hãi. Bà Lisabeta ngồi đợi anh ở cửa. Bà biết anh quan tâm đến Beatrica. "Tôi có một tin mới tốt lành cho cậu đây". Bà nói: "Tôi biết có một cái cổng bí mật đi vào vườn của Rapechini".
Giovani không thể tin vào tai mình. "Ở đâu vậy?", anh hỏi, "hãy chỉ lối cho tôi".
Một ngày nọ, Giovani tìm ra cánh cổng bí mật đi vào khu vườn của Rapechini. Anh đi vào. Tất cả cây cối hình như có vẻ hoang dại và không tự nhiên. Giovani nhận ra Rapechini có lẽ đã tạo ra những bông hoa lạ thường và khủng khiếp này cho những cuộc thí nghiệm của ông ta.
Thình lình, con gái của Rapechini bước vào khu vườn. Cô di chuyển nhanh chóng giữa những cánh hoa cho đến khi gặp anh. Giovani xin lỗi về việc đi vào khu vườn mà không có sự mời trước, nhưng Beatrice cười với anh và làm anh cảm thấy an tâm.
"Tôi thấy anh rất yêu hoa", cô nói, "và vì thế anh đã đến để quan sát kỹ hơn bộ sưu tập hiếm hoi của cha tôi".
Trong khi cô nói, Giovani chú ý đến hương thơm tỏa ra quanh cô. Anh không chắc rằng mùi hương tuyệt diệu đó đến từ những cánh hoa hay từ hơi thở của cô. Cô hỏi thăm về quê nhà và gia đình anh. Cô kể với anh rằng cô đã gởi gắm cuộc sống của mình trong khu vườn này. Giovani cảm thấy như đang nói chuyện với một đứa trẻ bé bỏng. Linh hồn của cô trong sáng như dòng nước sạch. Họ chậm rãi đi qua vườn khi nói chuyện. Cuối cùng, họ đến cái cây xinh xắn đơm đầy những hoa tím lớn. Anh nhận ra mùi hương từ những bông hoa này giống như mùi hương từ hơi thở của Beatrice nhưng nó nồng hơn.
Chàng trai trẻ đưa tay ngắt một trong những bông hoa tím, nhưng Beatrice hét một tiếng lớn xuyên qua tim anh như một lưỡi dao. Cô dùng hết sức kéo tay anh ra khỏi cái cây. "Đừng bao giờ sờ vào những bông hoa này", cô la lên. "Nó sẽ lấy đi mạng sống của anh đấy".
Hai tay che mặt, cô chạy vào nhà. Giovani nhìn thấy bác sĩ Rapechini đang đứng trong vườn. Đêm ấy, Giovani không thể không nghĩ gì về sự ngọt ngào và xinh đẹp của Beatrice. Cuối cùng anh ngủ thiếp đi…
Nhưng sáng hôm sau, anh thức dậy với nỗi đau đớn. Anh cảm thấy như thể một trong hai bàn tay anh bốc cháy. Đó là bàn tay mà Beatrice nắm lấy trong tay cô ta khi anh sờ đến một trong những bông hoa. Giovani nhìn xuống bàn tay mình. Có một dấu màu tím giống như bốn ngón tay và một ngón cái. Nhưng vì trái tim anh đang tràn đầy hình bóng của Beatrice, Giovani quên đi nỗi đau ở tay mình.
Anh bắt đầu gặp cô hàng ngày. Cuối cùng cô nói rằng cô yêu anh, nhưng cô sẽ không bao giờ cho anh hôn cô hay thậm chí nắm tay cô.
Sau đó nhiều tuần lễ, vào một buổi sáng, giáo sư Bajioni đến thăm Giovani. "Tôi lo lắng cho cậu", ông già nói. "Cậu đã không đến lớp hơn một tháng rồi. Có việc gì thế?"
Giovani không hài lòng khi gặp người bạn già. "Không, không có việc gì cả. Tôi khỏe mà, cám ơn”. Anh muốn giáo sư Bajioni bỏ đi, nhưng ông già lại gỡ nón ra và ngồi xuống.
"Giovani thân mến", ông nói. "Cậu phải tránh xa Rapechini và con gái ông ta. Cha cô ấy đã đưa thuốc độc vào người cô ấy từ khi cô còn là trẻ sơ sinh. Chất độc ngấm trong máu và trong hơi thở của cô ta. Nếu Rapechini đã làm điều đó với con gái của mình thì ông ta đang dự định làm điều gì đó với anh chăng?".
Giovani giơ hai tay lên che mặt. "Ôi, chúa ơi!", anh la lên.
"Đừng lo lắng", ông già tiếp tục. "Cũng chưa muộn lắm để cứu cậu và chúng tôi cũng có thể sẽ thành công trong việc giúp Beatrice. Cậu có thấy cái chai bạc nhỏ bé này không? Nó chứa một loại thuốc sẽ phá hoại ngay cả loại độc dược mạnh nhất. Hãy đưa nó cho Beatrice uống".
Giáo sư Bajioni đặt lọ thuốc nhỏ trên bàn và rời khỏi phòng Giovani. Chàng trai trẻ muốn tin rằng Beatrice là một cô gái đáng yêu ngây thơ, tuy nhiên những lời của giáo sư Bajioni đã gieo nỗi nghi ngờ vào trái tim anh.
Đã gần đến giờ anh gặp Beatrice như mọi ngày. Khi Giovani chải đầu, anh tự ngắm mình trong chiếc gương gần giường ngủ. Anh không thể không chú ý rằng mình thật đẹp trai. Đôi mắt anh trông thật sáng, và gương mặt thì nồng nhiệt, khỏe mạnh. Anh thầm nói: "Ít ra, chất độc trong người cô ấy chưa lan sang cơ thể mình".
Khi nói, anh tình cờ nhìn vào những bông hoa anh đã mua sáng hôm đó. Một nỗi kinh hoàng xâm chiếm cơ thể anh. Những bông hoa đang chuyển sang màu nâu. Gương mặt Giovani trắng bệch, khi anh nhìn chằm chằm mình trong gương. Rồi anh để ý đến một con nhện đang bò gần cửa sổ. Anh cúi xuống và thổi một hơi vào nó. Con nhện run rẩy và ngã ra chết.
"Ta phải khổ rồi, hơi thở của ta đã nhiễm độc", anh nói thầm.
Và lúc đó, một giọng nói ngọt ngào sâu lắng vang lên từ dưới vườn.
"Giovani, anh trễ rồi đấy. Xuống đây nào!"
"Cô là một quái vật", Giovani hét lên ngay khi anh gặp cô. "Và với chất độc của mình, cô đã làm cho tôi cũng trở thành quái vật. Tôi là một tù nhân của ngôi vườn này".
"Giovani", Beatrice khóc và nhìn anh với đôi mắt to, sáng long lanh. "Tại sao anh lại nói đến những điều khủng khiếp này. Đúng là em không thể nào rời khỏi khu vườn này. Nhưng anh vẫn còn tự do đi bất cứ nơi nào anh muốn!".
Giovani nhìn cô với sự căm ghét tràn đầy trong mắt. "Đừng giả vờ rằng cô không biết cô đã làm gì đối với tôi".
Một đàn côn trùng bay vào vườn. Chúng bay về hướng Giovani và lượn trên đầu anh. Anh thổi một hơi vào chúng. Đàn côn trùng rơi xuống đất, chết ngay. Beatrice hét lớn: "Em thấy rồi, em thấy rồi. Cái khoa học của cha em đã làm điều đó với hai chúng ta. Em không đòi cha làm điều đó đối với anh. Em chỉ muốn yêu anh".
Nỗi tức giận của Giovani chuyển thành nỗi buồn rầu. Rồi anh nhớ lại thứ thuốc mà giáo sư Bajioni đã đưa cho anh. Có lẽ loại thuốc này sẽ phá hủy được thứ độc dược trong cơ thể họ và giúp họ trở lại bình thường. "Beatrice yêu dấu", anh nói. "Định mệnh của chúng ta có lẽ chưa đến nỗi khủng khiếp đến vậy". Anh chỉ cho cô xem chai thuốc bạc nhỏ và kể cho cô biết thứ thuốc bên trong có công dụng gì".
"Em sẽ uống trước", cô nói. "Anh hãy chờ xem chuyện gì xảy ra với em trước khi anh uống nó".
Cô đưa chai thuốc của Bajioni lên môi và hớp một ngụm. Cùng lúc đó, Rapechini ra khỏi căn nhà và chậm rãi đi về phía hai người trẻ tuổi. Ông đưa hai tay về phía họ như thể đang ban phước lành cho họ.
"Con gái ơi", ông nói. "Con không còn cô đơn trên thế giới này. Hãy cho Giovani một trong những cánh hoa tím từ cái cây mà con ưa thích. Bây giờ nó sẽ không làm hại anh ta đâu. Khoa học của cha và tình yêu của con đã làm cho anh ta khác với người thường".
"Cha ơi", Beatrice yếu ớt nói. "Tại sao cha làm điều khủng khiếp đó với con gái của mình?".
Rapechini nhìn con đầy vẻ ngạc nhiên. "Con muốn nói gì, con gái của ta?", ông hỏi. "Con đã có một sức mạnh mà không phụ nữ nào khác có được. Con có thể đánh bại kẻ thù mạnh nhất của con chỉ bằng một hơi thở. Con thích trở thành một người phụ nữ yếu ớt sao?".
"Con muốn được yêu thương, chứ không phải sợ hãi", Beatrice trả lời. "Nhưng giờ đây điều đó chẳng hề gì. Con đang xa rời cha đây. Con sẽ đi và chất độc mà cha đưa vào người con sẽ không làm hại ai được nữa. Chào anh, Giovani!".
Beatrice ngã xuống. Cô chết dưới chân người cha và Giovani. Chất độc đã ngấm quá nhiều trong người cô gái. Liều thuốc tuy hủy diệt được chất độc nhưng cũng đã giết chết cô.
Mẹ điên Tác giả: Vương Hằng Tích (Trung Quốc) Trang Hạ dịch Post nhân lễ Vu lan
Nghe đọc truyện:
Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng. Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể. Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con.
Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: "Đưa, đưa tôi..." bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao mà phát hiện mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Đặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã trong miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: "Đừng... đừng...". Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại.
Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài. Bà nội quay đầu đi, nuốt những nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí.
Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa lại.
Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới phát hiện, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: "Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi." Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống không? Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang.
Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" Tôi mừng quá đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: "Thụ... bóng... bóng...". Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào lòng tôi với vẻ nịnh nọt. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!" Tôi tức tối đáp lại nó: "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng.
Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: "Con mẹ điên lúa và cỏ mà không phân biệt được..." Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa
Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Đừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật, là bà. Bà trừng mắt bảo tôi: "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Đấy là mẹ mày đấy!" Tôi vùng vằng bĩu môi: "Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!" "A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!" Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: "Đánh tôi, đánh tôi!" Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!". Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa.
Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Phạm Gia Hỷ cầm đầu trêu chọc. Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị Phạm Gia Hỷ tránh . Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ Phạm Gia Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra.
Mẹ vì tôi gây ra đại hoạ, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn. Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Đây là những người do nhà Phạm Gia Hỷ nhờ tới, bố Phạm hung hãn chỉ vào cha tôi nói: "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, mẹ mày tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra." Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà họ Phạm, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngănbàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Đám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành hoạ đấy thôi!". Cha lại nhìn tôi nói: "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". Tôi gật đầu, tôi hiểu.
Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp.
Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này.
Lại là một chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: "Ngọt quá, ở đâu ra?" Mẹ nói: "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì. Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: "Mẹ mày có nói gì không?" Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:" Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Đường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" Tôi nói: "Thím, thím đừng doạ cháu...". Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi...
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..." Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi.
Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Đại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: "Mẹ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"
QUOTE(Chú Thích)
Đôi dòng giới thiệu về tác giả: Chuyện "Vừa đọc vừa khóc" hay "Mẹ điên" của tác giả Vương Hằng Tích gần như ghi lại những sự kiện có thật, được xếp vào dạng "tiểu thuyết ghi chép thật" (ký thực tiểu thuyết), nhân vật chính là gia đình người cậu của tác giả .
Vương Hằng Tích là người dân tộc, nhà nghèo đói, thất học, học gần hết THCS thì năm 1985 rời khu tự trị tỉnh Hồ Bắc ra đi kiếm việc khi 15 tuổi, làm mọi việc cửu vạn rồi đi học nấu ăn, tự mày mò viết văn, chủ yếu là viết tản văn, ghi chép, tự truyện lặt vặt. Năm 1998, Vương Hằng Tích được kết nạp vào hiệp hội nhà văn Hồ Bắc, là nhà văn mang thân phận "kẻ làm thuê công nhật" đầu tiên của Hồ Bắc. Năm 1999, anh cũng được tuyên dương là một trong mười lao động trẻ xuất sắc của tỉnh Hồ Bắc, và sau đó, anh rời dao thớt cùng bếp lò để được ngồi vào một văn phòng làm biên tập viên, thật sự là vinh hạnh mà Vương Hằng Tích (VHT) không thể ngờ tới.
"Mẹ điên" chính là mợ (vợ của cậu) của VHT. Cậu VHT hơi bị lẩn thẩn, vừa nghèo vừa xấu vừa dốt, mãi không có vợ. Mợ không rõ từ đâu dạt tới, mợ vừa câm vừa điên, về làng rồi thành mợ của VHT. Nhưng mợ điên ăn rất nhiều, cơn điên tới thì đổ cơm vào thùng rác, hay bị mẹ chồng mắng, có lần mợ điên bị mẹ chồng (bà ngoại của VHT) đánh đau quá, đã cầm dao chém mẹ chồng gần chết. Rồi mợ điên đẻ con trai, nhưng đêm ngủ đè chết con, nên bị cả nhà đuổi đi. Từ đó, trên hòn đá đầu thôn, có một con điên cứ ngồi trên hòn đá đầu mộ, khóc ti tỉ cho đứa con đã chết.
"Mẹ điên" trong đời thật đã lưu lạc khắp nơi, tổng cộng làm vợ cho mấy nhà, mỗi lần đều đẻ ra được một thằng con trai xong bị nhà đó đuổi đi. Mỗi lần bị đuổi "mợ điên" đều qùy khóc mãi trước cửa nhà người ta, không chịu đi. Sau đó vài năm, "mợ điên" muốn gặp những đứa con mình đã sinh ra, nhưng đều bị mấy gia đình kia đuổi đi không cho gặp. Kết cục, có lần quá đói, hái đào dại ăn, "mợ điên" nhà VHT ngã chết dưới khe núi, được người quanh đó chôn qua loa.
Rồi sau đó, cậu của VHT cũng chết, năm 2004 lễ thanh minh, VHT về quê thắp hương cho cậu mình, mới có người chỉ cho, cách đó không xa có mộ của mợ. Nhìn thấy hòn đá bé tẹo đánh dấu, VHT nói, mình đã khóc như mưa vì hồi tưởng lại hình dáng của cậu và mợ ngày còn sống. Những đứa con của mợ điên rải rác vài thôn quanh đó cũng đã thành những chàng trai hai mươi tuổi. Tuy nhiên, trong số đó, ngay cả những đứa có học hành đến nơi đến chốn cũng không thèm đếm xỉa đến mẹ mình. Vào giây phút đó, đầu óc VHT đầy chặt những xung động đòi phải viết, anh nhất định phải viết để ghi chép lại cuộc đời này.
VHT mới ngoài 30, cho biết, mình chỉ ghi lại những gì đã thấy vào văn. Trong tương lai, đã có rất nhiều nhà xuất bản Trung Quốc đặt hàng anh viết "Mẹ điên" thành một tiểu thuyết, năm 2005, vở kịch nói "Mẹ điên" chuyển thể từ truyện ngắn của Vương Hằng Tích do Nhà hát kịch Quảng Đông dàn dựng đã mang vở kịch lên tận Bắc Kinh biểu diễn.
Giới thiệu về dịch giả: Trang Hạ hiện đang sinh sống và làm việc tại Đài Bắc, blog của chị nổi tiếng và được nhiều người đón đọc bởi rất nhiều chuyện dịch cảm động và có phong cách.
Tại cửa hiệu Miligan đông đúc ồn ào bà Bishop đã ăn quá nhiều bánh xăng-đuych, và bánh kem, đến nỗi giờ đây khi bước ra đường bà cảm thấy dễ chịu dù không khí lạnh và ẩm ướt. Ở lối vào tòa nhà chung cư, bà rút ví tiền, nhẩm đếm. Chỉ còn tám muơi bảy xu, số tiền không đủ cho một chuyến tắc-xi từ Tenth Street đến Seventy-third. Thật là kinh khủng với một chiếc ví lép xẹp thế nầy, bà nghĩ thầm. Thường những khi chơi bài bị thua, bà thường ghi giấy nợ và điều nầy khiến bà xấu hổ, dù bà luôn lo liệu để xoay xở tốt tất cả khoản nợ. Bà thường phẫn uất với Lila Hardly, người hay nói: “Có ai đổi cho tôi 10 đô không?”, và lấy từ chiếc túi nhỏ nhắn, thanh nhã của bà ta tờ mười đô la trong khi những người phụ nữ khác thì chạy lăng xăng cho cuộc đổi chác nầy. Bà Bishop thấy rằng đã quá trễ để đón chuyến xe buýt, trong khi bà có thể đi bộ qua đường xe điện ngầm dù không khí dưới đó có thể làm bà đau đầu. Trời đang mưa phùn, hai bên lề đường sũng ướt. Khi bà đứng ở góc đường đợi đèn giao thông đổi tín hiệu, bà chợt thấy hối tiếc kinh khủng cho bản thân. Nhớ lại khi còn là một cô gái trẻ, bà luôn mơ ước sau nầy lớn lên sẽ có thật nhiều tiền. Bà dự định sẽ làm mọi thứ với số tiền có được, sẽ mua sắm trang phục ra sao, lót nệm ghế như thế nào cho chiếc xe hơi của mình. Tất nhiên, thời buổi bây giờ, khi nói đến sự nghèo khổ, mọi người đều tỏ ra cảm thông. Nhưng phải mất tiền mà hoàn toàn không có cơ hội kiếm lại được thì thật là tồi tệ. Và càng vô lý, lố bịch hơn nữa khi đi loanh hoanh mà trong ví không có tới một đô la. Mọi thứ trong nhà, như thức ăn và các đồ dùng khác, bà đều ghi sổ nợ. Mấy năm trước Robert đã lập cho bà một ngân quỹ, nhưng điều đó vẫn không thể giữ sự tiêu xài của họ dưới mức cho phép, vì vậy họ đã từ bỏ loại ngân quỹ nầy. Tuy nhiên, Robert dường như luôn sẵn tiền, bằng cớ là khi bà đến hỏi năm hay mười đô la, ông đều xoay xở để đưa cho bà. Đàn ông đều vậy cả, bà nghĩ thầm. Họ quản lý, giữ tiền trong túi nhưng không hề nghĩ rằng vợ họ cần gì. Đã thế thì bà sẽ đòi cho được món tiền trợ cấp. Ít ra bà cũng phải biết được đâu là chỗ đứng của bà trong gia đình. Khi quyết định như vậy, bước chân bà Bishop trở nên mạnh mẽ, và mọi việc với bà dường như đơn giản hơn nhiều. Không khí trong đường ngầm tồi tệ hơn thường ngày khi bà đứng bên lề chờ chuyến xe lửa. Người mang hàng hóa xô đẩy làm bà cảm thấy mệt chỉ muốn ngồi bệt xuống. Khi xe lửa đến bà giành một chỗ ngồi gần cửa sổ, và mặc dù trong thâm tâm đang sục sôi nổi loạn, vẻ mặt kích thích của bà trông đần độn ngớ ngẩn như những khuôn mặt khác trong đường ngầm. Tại Eighteen Street, một đám đông leo lên xe, và tầm nhìn của bà bị che khuất bởi người đàn ông vừa bước vào, tay vịn sơị dây da phía trước bà. Người đàn ông cao gầy, và chiếc áo khoác vắt lòng thòng trên vai, đu đưa theo nhịp xe chuyển động, bốc mùi lông cừu ẩm khó ngửi. Hàng nút của chiếc áo khoác làm bằng da giả, một chiếc nút ngay trước mắt bà Bishop bị bung ra và được kết lại bằng chỉ màu đen trông chẳng hợp với nó chút nào. Có lẽ chiếc áo khoác nầy đã từng được biết đến như một loại trang phục sang trọng dù giờ đây trông nó chẳng còn dáng vẻ cao sang. Tay áo hầu như đã mòn, xơ chỉ, và quanh cổ tay, một miếng nhỏ của lớp vải lót sút ra, rủ xuống lòng thòng trên tay người đàn ông. Bà Bishop thấy mình cứ chăm chú nhìn vào bàn tay người đàn ông. Bàn tay với những ngón dài xanh xao, không được sạch sẽ lắm.. Những móng tay ngắn như thể chúng đã bị cắn trụi, và có một vết chai trên ngón tay thứ hai có lẽ do hay cầm viết. Bà Bishop, người vẫn tự hào về khả năng quan sát của mình, lập tức xếp ông ta vào tầng lớp công chức. Bà nghĩ , rất có thể ông ta là cha của một gia đình đông con, và đã phải vất vả để lo cho chúng ăn học. Ông ta không bao giờ tiêu xài cho bản thân. Chiếc áo khoác tồi tàn của ông ta đã minh chứng cho điều nầy. Ông ta hẳn cực kỳ lo sợ bị mất việc. Ngôi nhà của ông ta luôn ồn ào và sặc mùi nấu nướng. Bà không thể khẳng định liệu vợ ông ta là một bà to béo nhếch nhác hay một người tàn tật, vô tích sự. Xem chừng cả hay đều phù hợp với ông ta. Bà thấy ấm áp trong lòng niềm thương cảm dành cho người đàn ông. Ngay khi ấy, ông ta bật lên tiếng ho nhẹ, điều nầy càng làm tăng thêm nỗi buồn trong lòng bà. Nỗi buồn man mác khiến bà cảm thấy sẵn sàng cam chịu đối với cuộc sống. Bà quyết định sẽ mỉm cười với ông ta khi xuống xe. Nụ cười sẽ chẳng giúp được gì cho ông ta, nhưng có thể làm cho ông ta cảm thấy dễ chịu hơn vì rõ ràng nụ cười đã bày tỏ rằng bà thấu hiểu và ái ngại cho hoàn cảnh của ông ta. Nhưng vào lúc xe lửa đến Seventy-second Street, mùi khó chịu của lông cừu ấm, không khí ngột ngạt khó thở cộng với nhiều nỗi lo lắng riêng tư, đã khiến bà cảm thấy ít mủi lòng hơn, cho nên, nụ cười của bà đã trở nên gượng gạo. Người đàn ông quay đi, bối rối. *** Căn hộ của bà quá nóng và mùi thịt cừu nướng làm bà thấy buồn nôn sau tiệc trà thừa mứa đã dùng. Bà thấy Maude, người hầu gái, đang dọn bữa tối trong phòng ăn. Bà Bishop đã mua nhiều bộ đồng phục nhỏ nhắn, lịch sự cho cô hầu, nhưng Maude không hợp với những trang phục ấy và không có bộ nào vừa với cô cả. Robert đang nằm đọc báo trên chiếc trường kỷ ở phòng khách. Tờ báo che khuôn mặt và đôi mắt của ông. Ông đã thay giày bằng đôi dép lê bằng nỉ màu xám dùng để đi trong nhà, đôi dép quá ngắn so với chân của ông nên hằn rõ dấu những ngón chân, trông thật nhếch nhác. Những năm đầu mới cưới nhau, thỉnh thoảng ông vẫn mặc lễ phục để ăn tối. Ông thường pha cho bà một ly cốc tai, mọi thứ đều rất tuyệt như cái cách bà hằng tưởng tượng về cuộc sống của hai người. Bà Bishop không chấp nhận việc buông thả bản thân, bà cho rằng Robert đã trở nên hoàn toàn trái tính. Bà ghét ông khi ông nằm đấy, thẳng đờ trong tư thế cam chịu. Bà ganh tỵ với Linda Hardy, chồng bà ta dù là kẻ nát rượu nhưng ít nhất cũng ra dáng một con người. Bà thích xé toạc tờ báo trước mặt Robert bởi vì sự giận dữ và ghê tởm đã dâng trào đến mức bà không chịu đựng được nữa. Trong một phút, bà đứng nơi ngưỡng cửa, cố kềm chế bản thân rồi đến mở tung cửa sổ. - Chúa ơi! Ở đây không có chút không khí để thở nữa. Robert phớt lờ lời phàn nàn, nhổm dậy. - Chào Mollie, mình mới về tới à? - Vâng, tôi vừa về. Tôi trở về nhà trên chuyến xe trong đường ngầm. Giọng bà đầy trách móc. Bà ngồi xuống chiếc ghế đối mặt với chồng, nhỏ giọng hơn để người hầu không nghe những gì bà nói. - Thật đấy, Robert. Thật là dễ sợ. Sau tiệc trà, trời mưa lắc rắc mà tôi không thể đón tắc xi về nhà bởi vì tôi chỉ có 87 xu, chính xác chỉ 87 xu! - Ừ, điều đó thật đáng xấu hổ. Đây nầy – Ông với tay vào túi lấy ra một cuộn nhỏ những tờ giấy bạc nhàu nát – Đây nầy – Ông lập lại, rồi đưa cho bà một tờ. Nhìn thấy tờ 5 đô la, bà Bishop lắc đầu. - Không, Robert, đây không phải là điều tôi muốn. Tôi thật sự cần một món tiền trợ cấp. Thật là bất công với tôi. Tôi không bao giờ có tiền. Không bao giờ. Điều nầy rõ ràng đã gây nhiều rắc rối cho tôi. Ông Bishop mân mê tờ 5 đô la, vẻ trầm ngâm. - Tôi hiểu. Mình cần tiền trợ cấp. Có chuyện gì xảy ra với mình vậy? Nào phải tôi đã không đưa tiền cho mình mỗi khi mình yêu cầu? - Vâng, vâng – Bà Bishop thừa nhận – Nhưng số tiền ấy không giống như là của riêng tôi. Một món tiền trợ cấp sẽ là của chính tôi hơn. - Nào, Mollie – Ông cố tìm lý lẽ thuyết phục – Nếu mình có riêng món tiền trợ cấp, chắc chắn nó sẽ hết nhẵn vào ngày thứ mười của tháng. - Đừng có xem tôi như một đứa con nít – Bà kêu lên – Tôi sẽ không để cho bị bẽ mặt nữa đâu. Ông Bishop vẫn ngồi lật đi lật lại tờ 5 đô la. - Mình nghĩ mình cần khoảng bao nhiêu? – Ông hỏi. - 50 đô la một tháng – Bà nói với chồng, giọng gay gắt, căng thẳng. Số tiền như vậy là quá ít cho tôi xoay xở. Lila Hardy thế nào cũng cười vào mức 50 đô la mỗi tháng nầy. - 50 đô la một tháng - Ông Bishop lập lại. Ông ho nhẹ, vẻ lo lắng, lướt nhẹ những ngón tay vào mái tóc – Tháng nầy tôi có nhiều việc phải lo liệu, nhưng mình hãy đợi đến đầu tháng tới, tôi có thể xoay xở. - Ồ, được thôi, tháng tới mọi việc sẽ đâu vào đấy – Bà kêu lên , cảm thấy khôn ngoan hơn để không đè nén sự chiến thắng của mình - Nhưng mình không được quên nhé, bởi vì tôi sẽ không bỏ qua đâu. Khi bà đi về phía tủ đựng quần áo để cất chiếc khăn choàng của mình, bà nhìn thấy chiếc áo khoác của Robert trên ghế gần cửa ra vào. Ông đã quẳng nó một cách cẩu thả qua mặt sau của chiếc ghế khi ông về tới nhà. Một ống tay áo rũ lòng thòng và bước chân di chuyển của bà làm nó nhẹ nhàng đu đưa qua lại. Bà nhìn cổ tay áo xơ mòn xấu xí để lộ một mảnh vải lót ra. Nó trông giống một cách kinh khủng với chiếc áo khoác của người đàn ông bà đã nhìn thấy trên xe lửa. Nhìn chầm chầm vào chiếc áo, bà bỗng thấy bị nhấn chìm trong nỗi hụt hẫng khủng khiếp, như thể bà đang rơi vào một giấc mơ. Cỏ May (Dịch từ nguyên bản tiếng Anh)
Oliver Twist (1838) là tiểu thuyết thứ 2 của Charles Dickens. Cuốn sách ban đầu được xuất bản ở Bentley's Miscellany làm một loại sách ra từng kỳ vào mỗi tháng, bắt đầu từ tháng 2 năm 1837 và đã tiếp tục cho đến tháng 4 năm 1839.
Oliver Twist đã được chuyển thể thành nhiều phim điện ảnh và phim truyền hình, và là cơ sở co vở nhạc kịch thành công cao Oliver!.
Trại mồ côi nằm cao trên dãy núi Carolina. Thỉnh thoảng vào mùa đông, tuyết rơi theo gió cuốn dày đặc đến nỗi từ dưới ngôi làng nhìn lên, hình dạng cái trại ấy bị che khuất như không còn tồn tại trên đời. Sương mù ẩn sau đỉnh núi, tuyết trắng cuộn xoáy xuống thung lũng, và gió rét mướt, làm cho mấy chú bé ở trại ngày hai lần mang sữa đến lều trẻ sơ sinh, chìa những ngón tay tê cóng lên cửa, thống khổ vì giá lạnh. -Khi chúng cháu mang thức ăn từ nhà bếp đến đấy – Jerry nói – mặt chúng cháu tê cóng, không còn cảm giác khi sờ lên. Cháu có một đôi găng nhưng những đứa khác thì không. Thằng bé bảo thích thời tiết vào cuối mùa xuân. Khi ấy, đỗ quyên nở hoa, trải tấm thảm đầy màu sắc qua sườn núi, gió tháng năm nhẹ nhàng lay động những cây nguyệt quế. - Khi nguyệt quế nở hoa, màu hồng và màu trắng chen nhau trông rất đẹp… Tôi đến đây vào mùa thu. Tôi cần sự yên tĩnh, cô lập để viết lách. Tôi tìm bầu không khí trong lành miền núi để xua đi cơn bệnh sốt rét do sống lâu ngày ở vùng nhiệt đới. Và tôi cũng nhớ quê nhà, nhớ những cây thông rực rỡ vào tháng mười, những cánh đồng ngô, những quả bí đỏ, những cây óc chó đen trên những ngọn đồi lô nhô… Tôi đã tìm thấy những hình ảnh thân thương ấy tại đây, khi sống trong ngôi nhà gỗ thuộc trại mồ côi, chỉ cách trại mồ côi hơn nửa dặm đường. Khi thuê ngôi nhà nầy, tôi có yêu cầu một đứa bé hoặc một người đàn ông đến bổ củi để dùng cho lò sưởi. Mấy ngày đầu, thời tiết ấm áp, tôi đã tìm đủ củi dùng trong nhà, không thấy ai đến, tôi cũng quên khuấy đi lời đề nghị của mình. Một trưa muộn, tôi ngước lên từ bàn đánh chữ và thoáng giật mình khi thấy một thằng bé đang đứng nơi cửa. Con chó săn, người bạn đồng hành của tôi đang đứng cạnh nó, thậm chí không sủa một tiếng cảnh báo tôi. Đứa bé khoảng mười hai tuổi nhưng trông nhỏ thó. Nó mặc chiếc quần may liền có yếm che ngực, một chiếc sơ mi rách và đi chân không. Nó nói: - Hôm nay cháu đến bổ củi. Tôi trả lời: - Nhưng cô đã nhờ một đứa ở trại rồi. - Thì chính là cháu đây. - Cháu à? Nhưng cháu bé thế kia… - Bé hay lớn không ăn nhằm gì tới việc bổ củi. Mấy đứa lớn hơn chưa chắc đã bổ được. Cháu đã bổ củi ở trại từ rất lâu. Tôi hình dung những nhánh củi thảm hại cho lò sưởi của mình. Tôi đang hào hứng với công việc, không muốn tiếp tục câu chuyện, và tôi cũng không tin thằng bé sẽ đảm đương nổi công việc nầy. - Được, cái búa đây. Hãy ra ngoài và làm những gì cháu có thề làm được. Tôi khép cửa, tiếp tục làm việc. Ban đầu, tiếng cành cây kéo lê đã quấy rầy tôi. Sau đó, thằng bé bắt đầu bổ. Những nhát bổ nhịp nhàng, chắc chắn, chẳng mấy chốc đã hòa lẫn vào dòng suy tưởng của tôi. Độ một tiếng rưỡi sau, tôi ngừng viết, duỗi người lắng nghe tiếng bước chân của thằng bé ngoài hành lang. Mặt trời đã lặn sau dãy núi xa, thung lũng đỏ tía, sẫm màu hơn cả những bụi cúc tần. - Bây giờ cháu phải về ăn tối – Thằng bé nói – Cháu sẽ trở lại vào ngày mai. - Tôi sẽ trả công ngày hôm nay cho cháu – Tôi bảo với nó, vẫn nghĩ có lẽ nên cố nài một thằng bé lớn hơn – Nào, 10 xu một giờ, được không? - Như thế cũng được. Chúng tôi vòng ra sau nhà. Một khối lượng củi đã bổ đáng kinh ngạc. Những súc gỗ anh đào, những gốc lớn đỗ quyên, cả những súc gỗ thông, gỗ xoài được thải ra từ việc xây dựng ngôi nhà. - Cháu đã làm công việc của một người đàn ông. Đống củi thật là lớn. Lần đầu, tôi nhìn kỹ thằng bé. Mái tóc nó có màu của những cánh đồng ngô, và đôi mắt với cái nhìn thẳng thắn thì giống như bầu trời miền núi khi mưa giăng xám phủ đi những ánh xanh lơ huyền dịu. Khi tôi ngõ lời khen, cái ánh xanh lơ ấy bừng lên trong đôi mắt nó. Như thể mặt trời đã soi ánh chói lọi qua dãy núi xua đi những đám mây mù. Tôi đưa nó đồng 25 xu. - Cám ơn cháu. Ngày mai cháu lại đến nhé. Thằng bé nhìn tôi rồi nhìn đồng tiền. Dường như nó muốn nói gì nhưng không diễn tả được. Và nó quay đi. - Mai cháu sẽ chẻ củi đóm và củi đốt cho cô. Nó ngoái đôi vai gầy lại. Rạng sáng, tôi lơ mơ thức giấc trong âm thanh tiếng bổ củi. Cái âm thanh nhịp nhàng ngay sau đó lại làm tôi thiếp đi. Khi tôi ra khỏi giường trong buổi sáng dịu mát, thằng bé đã xong công việc và trở về trại. Một đống củi đóm đã dược chất ngăn nắp tựa bức tường. Sau giờ học buổi trưa nó lại đến một lần nữa và làm việc cho đến lúc phải quay về trại. Tên thằng bé là Jerry, 12 tuổi, đã sống ở trại mồ côi từ khi lên 4. Tôi không sao hình dung ra thằng bé 4 tuổi với đôi mắt xanh xám , nghiêm nghị dầy tự tin. Không chỉ tự tin mà còn rất đỗi ngay thẳng, chính trực. Đức tính quý báu ấy tôi chì tìm thấy ở cha tôi và hiếm khi gặp được ở những người tôi từng quen biết. Nhưng Jerry dường như có tất cả. Thằng bé trong sáng, giản dị, tinh khiết như dòng suối chảy qua khe núi. Ở thằng bé, thể hiện sự can đảm, và hơn cả sự can đảm, sự thật thà và hơn cả thật thà. Một hôm cái cán rìu bị gãy, Jerry nói sẽ mang đến xưởng mộc của trại để sửa. Tôi đưa tiền công, nó không nhận. - Để cháu trả. Cháu đã làm hư. Cháu đã không cẩn thận để vuột tay. - Nhưng không ai có thể cẩn thận trong mọi lúc. Có lẽ do gỗ của cán rìu không tốt. Cô sẽ mắng vốn người đàn ông đã bán cây rìu nầy. Tôi nói như vậy thằng bé mới chịu nhận tiền. Quả thật, nó không phải là đứa bất cẩn. Nó là người làm thuê tự do luôn có ý thức trong công việc. Nếu sơ sót, nó sẳn sàng nhận lấy trách nhiệm không chút do dự. Ngoài việc bổ củi, thằng bé còn giúp tôi những công việc vặt vãnh. Nó tìm thấy một cái hố kín đáo bên cạnh lò sưởi mà tôi không nhận ra. Nó tự ý xếp củi đóm và củi đốt vào đấy để tôi có chất đốt dự trữ trong những ngày thời tiết trở nên ẩm ướt. Có một viên gạch bị sút trên lối đi gồ ghề dẫn vào nhà. Nó đã đào một cái hố sâu hơn, đặt viên gạch lại vững vàng, mặc dù khi nó đến, nó thường đi con đường khác. Tôi nhận ra thằng bé đã làm những công việc ấy bằng tất cả tấm lòng. Khi tôi cố đáp lại sự ân cần của nó bằng kẹo hay những quả táo, nó không nói một lời cảm ơn. Có lẽ nó chưa từng được dạy dỗ để diễn đạt điều nầy, và sự nhã nhặn trong cách cư xử của nó chỉ là do bản năng. Nó thường nhìn vào món quà rồi nhìn tôi. Khi ấy như có một bức màn được vén lên, để tôi có thể thấy sâu nơi cặp mắt trong trẻo của nó sự hàm ơn, tình cảm dịu dàng, vượt ngoài vẻ lạnh lùng thường thấy ở nó. Thằng bé thường tìm những cái cớ đơn giản để đến và ngồi bên tôi. Tôi không thể bảo nó quay về trại nếu nó không cảm thấy đói bụng. Một lần, tôi đề ngii5, thời gian tốt nhất cho buổi đến thăm của nó là sau bữa tối. Sau đó, nó thường đến và đợi cho đến khi chiếc máy đánh chữ của tôi ngừng gõ. Một hôm, làm việc đến chạng vạng, tôi quên bẵng thằng bé. Khi bước ra ngoài, tôi thấy nó lững thững đi lên đồi, trong ánh hoàng hôn, hướng về khu trại. Nơi hành lang, chỗ ngồi hãy còn ấm. Có lẽ Jerry đã đến và ngồi chờ tôi rất lâu. Dĩ nhiên, Jerry cũng thân thiện với con chó Pat của tôi. Có sự cảm thông kỳ lạ giữa thằng bé và con vật. Khi tôi đi nghỉ cuối tuần bên kia bang, tôi đã để con chó lại cho Jerry chăm nom. Tôi trao cho nó cái còi huýt chó, chìa khóa nhà và để lại một ít thức ăn. Thằng bé sẽ đấn hai, ba lần một ngày, dẫn chó ra ngoài, cho nó ăn và chơi đùa với nó. Tôi dự định quay về vào tối chúa nhật, và Jerry sẽ đến lần cuối vào buổi trưa, sau đó để chìa khóa lại ở một nơi mà chúng tôi đã thỏa thuận. Chuyến trở về của tôi đã muộn hơn dự định, Sương mù giăng mù trên núi nguy hiểm đến nỗi tôi không dám lái xe trong đêm. Sáng hôm sau, trời hãy còn sương, vì vậy đến trưa thứ hai tôi mới về đến nhà. Con chó đã được chăm sóc và cho ăn vào buổi sáng. Jerry đến trước buổi trưa lo lắng: - Ông giám thị nói ít ai lái xe trong sương mù. Cháu đến trước giờ ngủ tối qua mà cô vẫn chưa về, vì vậy sáng nay cháu đã mang cho Pat một ít phần điểm tâm của cháu. Cháu đã không để bất cứ điều gì xảy ra với nó. - Cô cũng tin như vậy, và đã rất yên tâm khi để Pat lại cho cháu. Thằng bé bận việc ở trại nên phải về ngay. Tôi cho nó 1 đô la để thưởng công. Nó nhìn đồng đô la rồi chào tôi ra về. Nhưng đêm đó, nó trở lại trong bóng tối, gõ vào cánh cửa. - Vào đây, Jerry, sao cháu lại được phép ra ngoài vào lúc muộn màng thế nầy. - Cháu đã bịa ra mõt cái cớ. Cháu nói với họ rằng có lẽ cô muốn gặp cháu. - Đúng vậy – Tôi xác nhận và thấy ngay niềm vui bừng lên trên khuôn mặt thằng bé – Cô rất muốn biết về việc cháu đã trông nom con Pat như thế nào. Thằng bé ngồi cạnh tôi bên lò sưởi. Nó kể về hai ngày sống chung với con chó. Con Pat nằm kề bên nó như tìm thất sự an ủi mà nó không hề tìm thấy ở tôi. Và dường như việc ở bên con chó của tôi, chăm sóc nó đã mang lại sự gần gũi giữa chúng tôi, để thằng bé cảm thấy cũng thuộc về tôi như là con vật. - Nó luôn ở bên cháu trừ những khi nó chạy vào rừng nguyệt quế. Cháu dẫn nó lên đồi. Cả hai chạy thật nhanh. Có một chỗ cỏ mọc cao, cháu chui vào trốn nó. cháu nghe tiếng nó lùng sục tìm. Nó lần ra dấu vết của cháu, sủa vang. Khi tìm tìm thấy cháu, nó cứ chạy vòng quanh cháu như một thằng điên. Chúng tôi cùnh ngắm nhìn ngọ lửa. Jerry nói: - Đây là gỗ táo. Nó cháy đẹp hơn bất kỳ loại gỗ nào. Không khí mỗi lúc thêm thân mật. Đột nhiên thằng bé như bị thúc ép phải nói ra những điều nó chua hề nói trước đó, mà tôi cũng không quan tâm để hỏi. - Cô trông hơi giống mẹ của cháu, nhất là trong bóng tối cạnh ngọn lửa thế nầy. - Nhưng cháu chỉ mới 4 tuổi khi cháu vào đây, làm sao nhớ được mẹ như thế nào hở Jerry? - Mẹ của cháu đang ở Mannvile. Trong giây lát, việc biết rằng Jerry có một người me thật sự gây sửng sốt cho tôi. Rồi điều ấy cứ làm xáo trộn suy nghĩ của tôi. Sao lại có thể bỏ rơi một thằng bé như thế nầy? Trại mồ côi phải chăng là một nơi tốt lành, với những người điều hành tử tế tốt bụng, với thức ăn thừa mứa, không có áo sơ mi rách, cùng công việc lao động nặng nề? Có lẽ phải thừa nhận rằng thằng bé đã không cảm thấy thiếu thốn tình thương yêu của người đàn bà đã vứt bỏ đứa con bé bỏng mìnnh đã rứt ruột sinh ra? Vào lúc lên 4, thằng bé có giống như bây giờ? Tôi nghĩ không có gì trên cuộc đời nầy làm thay đổi ánh nhìn trong đôi mắt ấy. Trỗi dậy trong tôi những nghi ngờ mà tôi không thể hỏi. Tôi sợ sẽ chạm vào nỗi đau của nó. - Gần đây cháu có gặp mạ cháu không? - Mỗi mùa hè cháu đều gặp mẹ. Mẹ cháu nhắn cháu đến. Tôi muốn kêu lên: Vậy sao cháu không ở luôn với bà ấy, sao bà ấy lại để cho cháu ra đi? - Mẹ cháu đến từ Mannvile. Hay bất cứ nơi nào mẹ từng ở. Hiện, mẹ cháu không có việc làm. Mặt Jerry bừng sáng lên dưới ánh lửa. Nó kể: “Mẹ cháu muốn cho cháu một con chó con, nhưng ở trại người ta không cho phép nuôi chó. Cô còn nhớ bộ quần áo cháu mặc hôm chúa nhật không – thằng bé nói một cách tự hào – Chính mẹ đã gửi cho cháu hôm giáng sinh trước - Nó hít một hơi dài như thưởng thức lại kỷ niệm – Mẹ còn gửi cho cháu đôi giày trượt băng nữa. - Một đôi giày trượt băng à? Tôi cố hình dung ra bà ta, cố gắng để hiểu người đàn bà ấy. Bà đã không hoàn toàn bỏ mặc đứa con trai nhỏ của mình. Hẳn là có nghịch cảnh gì đây. Tôi nghĩ tôi không được lên án bà nếu không am hiểu tường tận. - Vâng, một đôi giày trượt băng. Cháu luôn cho mấy đứa khác mượn với điều kiện chúng phải giữ gìn cẩn thận. Còn có lý do nào khác hơn sự nghèo khó đã chia rẽ hai mẹ con? - Cháu dự định sẽ dùng 1 đô la bà cho vì việc chăm sóc con Pat để mua cho mẹ cháu đôi găng tay. Tôi chỉ có thể bảo nó : - Điều đó cũng tốt thôi. Thế cháu có biết kích cỡ tay mẹ cháu không? - Cháu nghĩ khoảng tám rưỡi – Nó nhìn đôi tay của tôi – Có phải găng của cô cỡ tám rưỡi không? - Không, găng của cô nhỏ hơn, sáu thôi. - Cháu đoán tay mẹ cháu chắc phải lớn hơn tay cô. Tôi ghét người đàn bà ấy. Nghèo túng, đói khổ thì sá gì so với lòng khao khát tình thương của một đứa trẻ? Và chính thằng bé bị bỏ rơi ấylại định dùng 1 đô la kiếm được từ công sức của mình để mua găng cho đôi tay to, ngu ngốc của bà. Còn bà thì sống xa rời nó, ở tận Mannvile, tự thấy hài lòng vì đã gửi cho nó đôi giày trượt băng. - Mẹ cháu thích găng tay màu trắng. Cô nghĩ cháu có thể mua nó với 1 đô la không? - Cô nghĩ rằng được. Tôi quyết định sẽ không rời nơi nầy nếu không gặp được mẹ Jerry để biết lý do bà phải để con trong trại mồ côi. Nhưng rồi, những trang viết không làm tôi hài lòng, và tôi chuyển sang đề tài khác. Tôi cần thêm tư liệu về Mê-Hi –Cô. Tôi bắt đầu lo liệu để chấm dứt công việc ở Florida. Phải đến Mê-Hi-Cô ngay, và ngồi ở đấy viết nếu có điều kiện. Sau đó, sẽ đến Alaska với anh trai, rồi có trời mà biết tôi sẽ làm gì, đi đâu nữa. Tôi đã không giành thời gian đến Mannvile để gặp mẹ Jerry, cũng không có dịp hỏi nhân viên ở viện mồ côi về bà ấy. Công việc bận rộn cho chuyến ra đi làm tôi xao nhãng thằng bé. Sau lần ấy, chúng tôi không nhắc đến bà ta nữa. Dù sao việc thằng bé có một người mẹ không xa nơi đây bao nhiêu, ở Mannvile, đã làm đi nỗi ray rứt của tôi về số phận của nó. Nó đã không đơn độc, và tôi yên tâm về điều đó. Nó vẫn đến mỗi ngày, bổ củi, giúp tôi những việc vặt và ở lại trò chuyện. Hôm nào trời trở lạnh tôi cho nó vào trong nhà. Nó nằm trên sàn, phía trước lò sưởi, một tay choàng qua mình con chó, cả hai ngủ gà gật chờ tôi xong công việc. Những hôm khác, chúng chạy tung tăng qua những hàng nguyệt quế. Và bởi cúc tây đã tàn, nó mang về cho tôi những chiếc lá thông màu đỏ son, những cành dẻ sũng ướt. Tôi đã sẵn sàng để ra đi. - Cháu là người bạn tốt của cô, Jerry ạ. Cô sẽ luôn nghĩ và nhớ đến cháu. Pat cũng thế. Ngày mai cô đi rồi. Nó không nói một lời, lKhi nó quay đi, trăng non đã nhú trên đỉnh đồi.. Tôi nhìn theo bóng nó lặng lẽ đi lên triền đốc. Ngày hôm sau, chờ mãi cũng không thấy nó tơi. Việc gói ghém đồ dùng cá nhân vào xe, sắp xếp chỗ nằm cho con chó, choáng hết thời gian của tôi. Khi tôi đóng cửa ngọi nhà, mặt trời đã lặn ở hướng Tây. Tôi dừng xe trước viênmồ côi, giao lại chìa khóa và thanh toán hóa đơn cho cô Clark. - Cô làm ơn gọi Jerry dùm để tôi từ giã nó. -Tôi cũng không biết thằng bé đang ở đâu nữa. E rằng nó không được khỏe. Nó đã bỏ bữa trưa. Một đứa khác thấy nó đi lên đồi, vào rừng nguyệt quế. Trong khi tới phiên nó phải đun nước trưa nay. Chưa bao giờ nó xử sự như vậy cả. Tôi thấy nhẹ nhỏm. Tôi biết mình không nên gặp lại thằng bé, điều ấy sẽ dễ dàng hơn là phải nói lời chia tay với nó. - Hổm rày tôi rất muốn gặp cô để hỏi thăm về mẹ thằng bé, về lý do bà phải gửi nó ở trại. Tôi còn muốn gặp mẹ nó nữa nhưng bây giờ tôi phải đi rồi. Tôi muốn gửi cô ít tiền, nhờ cô mua quà cho thằng bé nhân giáng sinh hay sinh nhật của nó. Chính tôi gửa quà cho nó thì hay hơn, nhưng tôi e mình sẽ gửi thứ mà nó đã có như giày trượt băng chẳng hạn. - Giày trượt băng à, ở đây có ai dùng giày trượt băng đâu. Vẻ ngây người của cô khiến tôi ngạc nhiên. Tôi lặp lại: - Ý tôi muốn nói là tôi không muốn mua cho thằng bé những thứ mà mẹ nó đã gửi cho nó. Có lẽ tôi đã chọn giày trượt băng, nếu tôi không biết rằng mẹ nó đã gửi cho.. Cô ta ngó tôi trân trân: - Tôi không hiểu – Cuối cùng cô ta nói – Thằng bé không có mẹ. Nó cũng không có giày trượt băng.
Tây Du Ký là một trong những tác phẩm kinh điển trong văn học Trung Hoa, và được xem là tác phẩm kinh điển nổi tiếng nhất cho thế hệ trẻ. Được xuất bản với tác giả giấu tên trong những năm 1590 và không có bằng chứng trực tiếp còn tồn tại để biết tác giả của nó, nhưng tác phẩm này thường được cho là của học giả Ngô Thừa Ân. Tiểu thuyết thuật lại chuyến đi đến Ấn Độ của nhà sư Huyền Trang (Đường Tam Tạng) để lấy kinh.
Trong tiểu thuyết, Huyền Trang (玄奘) được Quan Âm Bồ Tát bảo đến Tây Trúc (Ấn Độ) thỉnh kinh Phật giáo mang về Trung Quốc. Theo ông là ba đệ tử - một khỉ đá tên Tôn Ngộ Không (孫悟空), một yêu quái nửa người nửa lợn tên Trư Ngộ Năng (豬悟能) và một thủy quái tên Sa Ngộ Tĩnh (沙悟淨) - họ đều đồng ý giúp ông thỉnh kinh để chuộc tội. Con ngựa Huyền Trang cưỡi cũng là một hoàng tử của Long Vương (Bạch Long Mã).
Những chương đầu thuật lại những kỳ công của Tôn Ngộ Không, từ khi ra đời từ một hòn đá ở biển Đông, xưng vương ở Hoa Quả Sơn, tầm sư học đạo, đại náo thiên cung, sau đó bị Phật Tổ Như Lai bắt nhốt trong núi Ngũ Hành 500 năm. Truyện kể lại Huyền Trang trở thành một nhà sư ra sao và được hoàng đế nhà Đường gửi đi thỉnh kinh sau khi hoàng đế thoát chết.
Phần tiếp của câu chuyện kể về các hiểm nguy mà thầy trò Đường Tam Tạng phải đối đầu, trong đó nhiều yêu quái là đồ đệ của các vị Tiên, Phật. Một số yêu tinh muốn ăn thịt Huyền Trang, một số khác muốn cám dỗ họ bằng cách biến thành đàn bà đẹp. Tôn Ngộ Không phải sử dụng phép thuật và quan hệ của mình với thế giới yêu quái và Tiên, Phật để đánh bại các kẻ thù nhiều mánh khóe, như Ngưu Ma Vương hay Thiết Phiến Công chúa ....
ĐÔI NÉT VỀ TÁC GIẢ Rasipuram Krisnaswami Narayan sinh năm 1906 tại Madras (Ấn Độ). Ông là nhà văn Ấn sáng tác bằng tiếng Anh. Ông dạy học, viết báo và viết văn. Năm 1935, ông xuất bản tập tiểu thuyết đầu tiên “Swami và những người bạn”, sau đó, nhiều tiểu thuyết và tập truyện ngắn của ông liên tiếp được ấn hành. Những nhân vật trong tác phẩm của ông thường đương đầu với những mâu thuẫn trong việc bảo tồn truyền thống dân tộc và những gì họ thừa hưởng từ nền văn minh Anh trong suốt những năm Ấn Độ là thuộc địa của đế quốc Anh.
Thế giới dưới bóng cây bàng
Làng Somal, ẩn khuất trong dãy rừng Mempi, có số cư dân không quá ba trăm người. Xét về mọi phương diện, đó là ngôi làng mà những người có tư tưởng cải cách nông thôn đến mấy cũng cảm thấy chùng lòng. Bể chứa nước ở giữa làng dùng để uống, tắm giặt cho người, và cả gia súc, là nơi phát sinh ra bao mầm bệnh sốt rét, thương hàn, và có trời mà biết còn những thứ bệnh tật gì khác nữa. Những túp lều mọc tràn lan, đường làng ngoằn ngoèo uốn lượn và đan chéo lẫn nhau. Người dân ở đây xử dụng con đường chính làm nơi đổ rác. Sau mọi nhà, cống rãnh tù đọng thành những vũng nước xanh.
Làng là như vậy. Có thể người dân ở đây không nhận thức được môi trường chung quanh, nhưng cũng có thể họ không bao giờ để ý đến những điều đó vì họ luôn sống trong sự mê hoặc triền miên. Người bỏ bùa mê họ bằng những câu chuyện kể là Nambi, một ông lão khoảng sáu, bảy mươi tuổi. Cũng có thể ông đã tám muơi hoặc một trăm tám mươi? Không ai có thể nói chính xác tuổi của ông. Ở một nơi hoàn toàn tách biệt như Somal (nơi mà trạm xe buýt gần nhất cũng cách khoảng mười dặm) thì việc tính toán không phải là cách thông thường để đo lường thời gian. Nếu ai đó hỏi Nambi bao nhiêu tuổi, ông thường nhắc đến một nạn đói đã xảy ra lâu lắm rồi, một cuộc xâm chiếm hay việc xây dựng một chiếc cầu nào đó, và chứng tỏ cho mọi người biết ông đã có mặt trên đời khi những sự việc ấy xảy ra.
Nambi mù chữ, chữ viết với ông là một điều hoàn toàn bí ẩn, nhưng ông có thể bịa ra mỗi tháng một chuyện, và từng chuyện có thể kể mất mười ngày. Nhà của Nambi là một ngôi đền nhỏ ở cuối làng. Không ai có thể giải thích bằng cách nào ông lão đã tự nhận mình là chủ của ngôi đền ấy. Ngôi đền là một kiểu kiến trúc nhỏ, với những bức tường có những vệt đỏ và hình tượng bằng đá của nữ thần Shakti đặt nơi chính điện. Phần trước của ngôi đền là nhà của Nambi. Thật ra bất cứ nơi đâu trong làng cũng có thể là nhà của ông. Ông không có của cải tài sản gì. Tất cả những thứ ông có là một cây chổi dùng để quét đền, một cặp đô-ti (1) và áo khoác ngoài. Hầu hết thời gian trong ngày của ông là ngồi dưới bóng râm tỏa rộng của cây bàng phía trước ngôi đền. Khi cảm thấy đói, ông đi đến bất kỳ ngôi nhà nào ông thích, cùng ăn với gia đình đó. Khi Nambi cần quần áo mặc, người làng mang đến cho ông. Hầu như không bao giờ ông phải ra ngoài để tìm kiếm bầu bạn, bỡi vì bóng râm cây bàng đã là một câu lạc bộ, nơi tụ tập của cả dân làng. Suốt ngày người ta tìm đến các bạn của Nambi và ngồi dưới bóng cây. Nếu Nambi cảm thấy hứng thú, ông sẽ lắng nghe câu chuyện của họ, làm dân làng vui thích bằng những lời nhận xét hay những câu chuyện kể của ông. Khi nào không thấy hứng thú, ông nhìn những người khách với vẻ cau có và hỏi: “Các người nghĩ ta là ai? Đừng có trách ta nếu như mùa trăng tới ta không có chuyện để kể cho các người nghe. Trừ phi ta nghĩ ra cách nào đó Nữ thần có thể ban cho ta câu chuyện. Bộ các người nghĩ rằng chuyện luôn có sẵn, trôi dạt trên không trung à?”. Và ông đi một hơi ra bìa rừng, ngồi đấy trầm ngâm ngắm nhìn cây cối.
Vào những chiều thứ sáu, dân làng tụ tập tới đền để cúng kiến và cầu nguyện. Nambi thắp hai mươi ngọn đèn trát bùn, sấp xếp chúng quanh ngưỡng cửa đền. Ông trang hoàng tượng Nữ thần bằng những bông hoa dại mọc ở sân sau ngôi đền. Nambi đóng vai người tu sĩ dâng lên Nữ thần trái cây và hoa do dân làng mang đến.
Vào những đêm Nambi có chuyện để kể, ông thắp một ngọn đèn và đặt trong cái hốc cây trên thân cây bàng. Buổi tối, người làng đang trên đường về nhà, thấy ngọn đèn, bảo với vợ con: “Nào, nào, nhanh lên, chuẩn bị cơm tối nhanh đi, ông kể chuyện đang gọi chúng ta đấy.” Khi ánh trăng nhô lên sau đỉnh đồi, nam phụ lão ấu đã tụ tập đông đủ dưới gốc cây bàng. Người kể chuyện vẫn chưa xuất hiện. Nambi ngồi nơi bệ thờ, trước tượng Nữ thần, mắt nhắm nghiền, chìm sâu trong nghĩ ngợi. Ông cứ ngồi như vậy bao lâu tùy thích, và khi bước ra ngoài trán ông sáng rực lên với bột tro và bụi sơn màu đỏ. Ông đến ngồi trên bệ đá trước đền, chỉ tay về một hướng xa xăm và thường bắt đầu câu chuyện bằng một câu hỏi: “Một ngàn năm trước, về hướng cách đây một tầm đá ném, các người nghĩ nơi đó là gì? Không phải chỉ có cỏ dại bao phủ những đống phân cho những con lừa lăn vào, cũng không chỉ là những hố tro như bây giờ. Đó chính là thủ đô của một vì vua”. Nhà vua ấy có thể là Dasaratha, Vikramaditya, Asoka hoặc bất cứ ai mà ông lão nghĩ ra. Còn thủ đô thì được gọi là Kapila, Kridapura hay bất kỳ cái tên nào đó cũng do Nambi đặt. Sau khi đã mở đầu câu chuyện như vậy, ông lão nói liên miên suốt ba tiếng đồng hồ. Khi ấy, cung điện của nhà vua được xây dựng dần dần từng viên gạch một. Căn phòng nơi diễn ra các buổi triều kiến của vua qua sự diễn tả của ông lão hiện lên, uy nghi, chói lọi với hàng trăm các chư hầu, tể tướng, quần thần. Ở một góc cung điện, tất cả các nhạc sĩ trên thế giới tụ tập và hát. Hầu hết các bài hát đều được người kể trình bày lại trước khán giả. Ông lão còn miêu tả chi li đến những hình ảnh, huy hiệu gắn trên bức tường cung điện. Câu chuyện được xây dựng theo phong cách sử thi. Ngày đầu tiên, bối cảnh của nó vẫn chưa được kể hết. Khán giả của Nambi vẫn chưa biết nhân vật nào sẽ được đưa vào câu chuyện. Khi ánh trăng lặn khuất sau rặng cây khu rừng Mempi, Nambi nói: “Nào các bạn, Nữ thần nói hôm nay kể đến chừng nầy đã đủ rồi”. Ông lão đột ngột đứng dậy, đi vào trong nằm xuống, ngủ ngon lành trước khi tiếng ồn ào của đám đông tan dần.
Ngọn đèn trong hốc cây được thắp sáng hai ba ngày sau và nó cứ hiện lên suốt nửa mùa trăng. Vua chúa, anh hùng, những tên bất lương, những phụ nữ đẹp như tiên, những thiên thần mang hình hài con người, các vị thánh, những kẻ giết người, tất cả cùng chen chúc trong thế giới được tạo ra dưới gốc cây bàng. Theo giọng kể lúc trầm lúc bổng của Nambi, ánh trăng và thời khắc nhuốm cho câu chuyện màu huyền bí. Dân làng cười với Nambi, khóc với ông ấy, thờ phượng những người anh hùng, chửi rủa những tên đểu cáng, than thở khi những kẻ mưu đồ tạo phản thành công bước đầu, và họ cùng cầu nguyện thần linh, lời cầu nguyện chân thành sao cho câu chuyện kết thúc tốt đẹp. Vào ngày câu chuyện chấm dứt, cả đám đông cùng tụ tập đi vào đền nằm dài trước tượng Nữ thần cầu nguyện. Đến khi vầng trăng non bắt đầu ló dạng trên đỉnh đồi, Nambi lại sẳn sàng bắt đầu một câu chuyện khác. Chưa bao giờ ông lặp lại những chuyện mà ông đã kể trước đó, cũng như chưa bao giờ có một nhân vật nào trùng lắp trong chuyện kể của ông. Dân làng xem Nambi như một hiện tượng kỳ diệu, họ dẫn lại những lời nói thông thái của ông, cùng sống trong sự tán dương, ngợi ca, mặc dù ở phương diện khác, cuộc sống của họ đầy dẫy khó khăn buồn tẻ. Như thế câu chuyện cứ kéo dài năm nầy qua năm khác. Một mùa trăng, Nambi thắp ngọn đèn trên cây. Khán giả đến. Ông lão ngồi xuống và bắt đầu câu chuyện: “Vào thời trị vì của vua K. tể tướng của ông là...” Ông lão ngừng lời. Đột nhiên ông không thể kể tiếp được. Ông bắt đầu lại câu chuyện: “Có một vì vua...” rồi cứ ấp úng mãi điều gì không rõ. “Chuyện gì đã xảy ra với ta vậy?”. Ông lão hỏi một cách thương tâm. “Ôi, Mẹ, Mẹ vĩ đại, sao tôi lại ấp a ấp úng thế nầy. Tôi biết câu chuyện kia mà. Tôi đã có toàn bộ câu chuyện cách đây một phút. Nhưng đó là câu chuyện gì? Tôi không hiểu điều gì đã xảy ra”. Ông lão cứ lắp bắp như vậy, và trông thiễu não đến nỗi khán giả của ông phải kêu lên: “Cứ thong thả. Có lẽ ông mệt đấy thôi”.
Nhắm nghiền mắt lại, ông lão kêu lên: “Tôi có mệt không? Hãy đợi một chút. Tôi sẽ kể ngay thôi.” Nhưng sau câu nói ấy là một khoảng yên lặng kéo dài. Những khuôn mặt nôn nóng hướng về ông lão. Ông giận dữ kêu lên: “Đừng có nhìn tôi như vậy!” Ai đó đưa cho ông một bình sữa. Khán giả kiên nhẫn chờ đợi. Điều nầy chỉ mới xảy ra lần đầu. Một số người bày tỏ sự thông cảm với ông. Số khác bắt đầu quay ra nói chuyện riêng. Những người ngồi bên ngoài đám đông thì lặng lẽ lẻn ra về. Dần dà, gần nửa đêm, những người khác cũng bỏ về nốt. Nambi ngồi nhìn trừng trừng xuống mặt đất, đầu cúi gầm nghĩ ngợi. Lần đầu tiên ông lão nhận ra mình đã già. Ông cảm thấy rằng sẽ không bao giờ ông còn kiểm soát được những suy nghĩ của mình và diễn đạt chúng một cách mạch lạc. Khi Nambi ngẩng lên, mọi người đã bỏ về hết, trừ Mari, người thợ rèn, bạn của ông. “Mari, sao ông không đi như những người khác?” Mari nói như bào chữa cho mọi người. “Họ không muốn làm cho ông mệt, vì vậy họ mới bỏ đi.” Nambi đồng tình. “Ông nói đúng. Ngày mai tôi sẽ kể tiếp câu chuyện. Ôi tuổi tác, tôi bao nhiêu tuổi rồi? Sao nó lại đến với tôi một cách đột ngột như vậy!”. Ông lão chỉ tay vào đầu và nói: “Cái đầu nầy nó đang bảo với tôi: “Tên già ngu ngốc, đừng tưởng ta sẽ làm đầy tớ cho ông suốt đời. Từ rày trở về sau ông sẽ là tôi tớ của ta”. Nó không còn vâng lời mà đã phản bội tôi”.
Ngày hôm sau, Nambi lại thắp ngọn đèn đặt trong hốc cây. Đám đông cũng tụ tập dưới gốc cây bàng một cách trung thành. Nambi đã trải qua trọn cả ngày trầm ngâm nghĩ ngợi. Ông lão đã nhiệt thành cầu xin nữ thần đừng bỏ rơi ông. Ông bắt đầu câu chuyện và nói suốt một giờ không ngừng. Ông cảm thấy hết sức nhẹ nhỏm, đến mức phải dừng câu chuyện lại để nhận xét. “Ồ, các bạn, Mẹ luôn tử tế. Tôi đã bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi ngu ngốc”, rồi mới kể tiếp. nhưng chỉ sau vài phút ông lại cảm thấy mọi ý tưởng như đã bỏ ông mà đi. Ông cố gắng một cách vất vả. “Và rồi... và rồi... Chuyện gì đã xảy ra vậy?”. Ông lão cứ ấp a ấp úng. Yên lặng kéo dài cả tiếng đồng hồ. Khán giả đứng dậy, không nói một lời lặng lẽ ra về. Ông lão vẫn ngồi trên bệ đá trầm ngâm cho đến khi gà gáy sáng. “Ta không thể trách cứ họ bất cứ điều gì”. Ông lão nói thầm với chính mình. “Họ có thể ngồi ở đây và ủ rũ suốt cả đêm sao?”.
Hai ngày sau, ông lão lại kể tiếp đoạn kế câu chuyện. Nhưng đoạn kể nầy cũng chỉ kéo dài được vài phút. Đám đông bắt đầu tản dần, Càng ngày càng ít người chú ý đến ngọn đèn trong hốc cây. Ngay cả những người đến đó thì cũng chỉ vì họ cảm thấy có bổn phận phải đến. Nambi nhận ra rằng chẳng ích lợi gì cho việc kéo dài sự cố gắng vật vả nầy. Ông kết thúc câu chuyện nhanh chóng dù nó vẫn chưa hoàn chỉnh.
Ông lão biết chuyện gì sẽ xảy ra và âu sầu khổ sở khi nghĩ đến sự thất bại của mình. “Nếu như ta chết cách đây vài năm chắc hẳn ta hạnh phúc hơn”. Ông lão nhủ thầm. “Hỡi mẹ, sao người lại làm cho tôi trở nên câm nín thế này?”. Ông lão cứ giam kín người trong đền đài, hầu như không ăn uống và ngồi bất động trầm ngâm suốt cả ngày.
Mùa trăng tiếp đến ló dạng trên đỉnh đồi. Nambi lại thắp ngọn đèn trong hốc cây. Dân làng khi trở về, lại trông thấy ánh đèn, nhưng chỉ vài người đến đó. “Thế còn những người khác đâu?”. Ông lão hỏi. “Chúng ta hãy đợi xem”. Ông lão ngồi đợi. Trăng lên. Số khán giả ít ỏi cũng ngồi chờ một cách kiên nhẫn. Sau đó, ông lão nói: “Tôi sẽ không kể câu chuyện, hôm nay cũng như ngày mai tôi sẽ không kể nếu như cả làng không đến đông đủ. Tôi đã quyết định như vậy. Đây là một câu chuyện tuyệt vời. Mọi người cần phải nghe nó”. Hôm sau, ông lão đi tới lui trên con đường làng và la lên: “Hôm nay tôi có câu chuyện rất hay để kể Tất cả mọi người hãy đến, đừng có bỏ qua...”. Lời kêu gọi trực tiếp có một tác dụng rất lớn. Buổi tối, toàn bộ dân làng lại tụ tập dưới gốc cây bàng. Họ rất vui vì người kể chuyện đã hồi phục lại năng lực. Nambi đi ra khỏi đền khi mọi người đã yên vị và nói: “Chính là nữ thần, người đã ban cho ta năng khiếu này và chính người đã lấy nó lại. Nambi chỉ là một gã khờ. Ông ta chỉ nói khi nữ thần cần có điều gì phải nói và ông ta trở nên câm lặng khi nữ thần không còn gì để nói nữa. Nhưng hoa nhài còn có ích lợi gì khi đã mất đi mùi hương? Và ngọn đèn còn để làm gì một khi dầu đã cạn? Hãy tạ ơn nữ thần. Đây là những lời cuối cùng của ta trên thế gian này và đây cũng chính là câu chuyện vĩ đại nhất của ta”. Ông lão đứng lên, chậm chạp đi vào đền. Khán giả hầu như không hiểu những gì ông vừa nói. Họ vẫn ngồi đấy cho đến khi cảm thấy mệt mỏi. Sau đó, một vài người đứng lên, đi vào trong đền. Họ thấy người kể chuyện đang ngồi, hai mắt nhắm nghiền. “Bộ ông không kể cho chúng tôi nghe câu chuyện sao?”. Họ hỏi. Ông lão mở mắt ra, nhìn họ và lắc đầu. Ông phác một cử chỉ ra dấu rằng ông đã nói những lời cuối cùng rồi.
Khi Nambi cảm thấy đói, ông đi đến bất cứ căn lều nào, lặng lẽ ngồi xuống, và sau khi đã ăn xong, lặng lẽ bỏ đi ngay. Ngoại trừ điều đó, hầu như ông lão không có gì đòi hỏi ở những đồng loại của mình. Về cuối đời (ông lão còn sống thêm vài năm nữa) Nambi hoàn toàn im lặng.
Cỏ May (Dịch từ nguyên bản tiếng Anh)
(1) Một loại vải quấn ngang người như xà-rông dành cho đàn ông.[/size]
Người ngoài cuộc Truyện ngắn của August W.Derleth (Mỹ)
Tôi không nhớ rõ cậu bé ấy lên tàu hỏa lúc nào. Có thể cậu ta đã có mặt sẵn trên tàu mà lúc bước lên tôi đã không để ý, cũng có thể cậu đã di chuyển từ toa khác sang trong lúc tôi đang chăm chú đọc báo.
Tôi cũng không nhớ điều gì đã khiến mình phải chú ý đến cậu ta. Một đứa trẻ ốm o, gầy còm, chắc chưa được 12 tuổi. Cậu có đôi mắt đen lanh lợi, đôi mắt thông minh và lúc tôi nhìn thì chúng đang chăm chú hướng về một doanh gia có vẻ làm ăn phát đạt, đang khoác trên người một chiếc áo lông thú dày cộm, đắt tiền. Cậu đã chuyển thế ngồi để có thể nhìn rõ và theo dõi câu chuyện của ông ta.
Tôi đã lưu ý đến vị doanh nhân này dù chỉ nhìn thoáng qua một lần khi bước ngang chỗ ông đi về phía ghế ngồi của mình. Suốt nửa giờ qua ông mải rôm rả chuyện trò cùng hai chàng sinh viên đại học ngồi cùng hàng ghế chỉ cách nhau cái lối đi nho nhỏ trên tàu.
Khi nhìn và quan sát cậu bé, tôi bắt đầu lưu tâm đến câu chuyện. Nhà doanh nghiệp này đang lên tiếng:
- Ồ, là người ngoài cuộc, các cậu chỉ biết lý thuyết suông thôi. Điều đó cũng tốt. Nhưng thật ra các cậu chẳng hiểu gì về nó cả…
- Cái chủ nghĩa tư bản ấy ư? - Một sinh viên xen vào.
- Nghe đây - doanh nhân ngắt lời- Tôi hiểu rõ nó hơn các cậu bởi vì tôi là người trong cuộc. Tôi phải xem xét tỉ mỉ, cố gắng khắc phục những rủi ro để còn có thể tiếp tục kinh doanh. Các cậu chẳng biết gì ngoài những điều đọc được trên sách báo - nhưng chỉ có trời mới rõ, còn biết bao điều khác nữa báo chí chưa một lần dám đá động tới…
- Cái chủ nghĩa tư bản kiểu này - anh sinh viên nhẫn nại lên tiếng - chắc chắn sẽ sụp đổ trong vài thập kỉ nữa thôi.
Nhà doanh nghiệp lặng lẽ mỉm cười.
- Thế ông nghĩ sao về vụ giết chóc xảy ra ở Detroit gần đây? - Anh sinh viên thứ nhì lên tiếng.
- Họ đáng phải nhận lãnh cái hậu quả đó thôi. Điều đáng tiếc là nhân vụ ấy một số kẻ lại được bọn côn đồ hung hãn thích quấy rối và gây biến loạn kia tôn xưng là anh hùng.
- Quấy rối và nhiễu loạn ư? - Chàng sinh viên thứ nhất lầm bầm - Nếu một người đàn ông đói lả, ra đường tìm miếng bánh để ăn thì người ta gọi đó là quấy rối. Còn nếu một phụ nữ muốn kiếm sữa về để nuôi con thì người ta cho đó là gây nhiễu loạn, có hại cho an ninh của cộng đồng. Ôi, đói khát chính là cái tội đối với xã hội!
- Hừm - Thương gia nói - Cách nhìn của cậu quá khích và cực đoan lắm đấy!
- Cái đói nào mà lại chẳng cực đoan, thưa ông - Anh sinh viên thứ nhì đáp lời.
Có nét hài lòng thấp thoáng trên mặt vị thương gia và nó chẳng hề bị những lời chua chát của anh sinh viên nọ xua đi. Ông quay mặt không nhìn họ nữa. Tình cờ mắt ông chạm phải mắt cậu bé. Ông mỉm cười: “À, còn cháu thì sao? Cháu nghĩ thế nào về câu chuyện chúng tôi vừa trao đổi?”
Cậu ta im lặng nhìn ông một lúc, đoạn chậm rãi cất tiếng:
- Detroit là thành phố đang xảy ra nạn đói…
Mọi người đều ngước nhìn thằng bé.
- Cháu mừng vì thoát được khỏi nơi đó.
- Ồ, vậy chắc cháu không đi một mình, đúng không? - Thương gia hỏi.
- Không, có cha cháu cùng đi. Cha và cháu định đến New York, vì mẹ đang ở đấy.
Sự im lặng bất chợt chùn xuống. Tiếng bánh xe hỏa nghiến lên đường rầy len vào toa nghe mỗi lúc một rõ hơn.
- Tôi không nhìn thấy cha cháu - Vị thương nhân nói. Ông ấy vào đây lúc nào tôi cũng không hay. Bây giờ ổng ngồi đâu?
Cậu bé đưa tay vạch một nét mơ hồ về phía toa dành riêng cho những người nghiện hút thuốc lá.
- À, tôi hiểu rồi.
Thương gia nhìn cậu bé với vẻ trầm ngâm rồi bất chợt lên tiếng hỏi:
- Đến New York rồi, cháu và cha cháu định làm gì?
- Cháu cũng không biết nữa.
Sự tịch lặng một lần nữa lại phủ xuống toa tàu và vị thương nhân ngần ngừ quay mặt đi chỗ khác. Nhưng cậu bé ấy vẫn tiếp tục dán mắt vào ông, không hề chớp mi hoặc thay đổi cách nhìn. Ông ta biết rõ đứa trẻ đang chòng chọc nhìn mình vì thình lình ông ngước đầu lên, nhìn sâu vào mắt nó một lúc, đoạn vu vơ cất tiếng:
- Cha cháu đi nãy giờ cũng khá lâu rồi đấy. Ông ta hẳn phải có một hộp xì gà to lắm nhỉ?
Nghe câu này, cái nhìn của cậu bé lần đầu rơi vào trạng thái bất định. Cậu ta nhắm mắt lại một lúc, rồi miệng lẩm bẩm: “Một cái hộp to, rất to là đằng khác”.
Thình lình vị thương gia nọ đứng dậy và duỗi thẳng tay chân ra cho đỡ mỏi. “Tôi già rồi”, ông ta lẩm bẩm.
- Ồ, không, tay chân cháu cũng tê cứng đây này - một anh sinh viên tiếp lời, rồi bắt đầu đứng thẳng lên.
- Này cháu, ta có ý này - thương nhân đột ngột lên tiếng khi nhìn cậu bé - Chúng ta hãy thử đi tìm xem cha cháu đang ở đâu.
Thằng bé gật đầu lia lịa rồi đứng dậy ngay. Nó men theo lối đi giữa hai hàng ghế bước nhanh, chỉ dừng chân một lần duy nhất ngoái lại xem có ai theo mình không. Không hiểu có điều gì thôi thúc mà tôi cũng bất chợt đứng dậy nối bước theo.
Chúng tôi sang toa kế bên, ở trong có ba người đang ngủ gà ngủ gật với những tờ báo đắp lên mặt. Rồi chúng tôi bước sang toa dành riêng cho những người nghiện hút, nhưng chẳng có ai ở trong. Vị thương gia, vẫn theo sát sau lưng cậu bé, chợt dừng chân lại, nhưng dường như nó chẳng hề quan tâm, vì vẫn cứ tiếp tục bước đi.
- Cháu ơi, đây chính là toa dành riêng để hút thuốc - ông ta gọi với theo cậu bé.
Nó quay lại:
- Toa ăn uống ở phía trước, có lẽ thế.
Nói xong, nó tiếp tục bước đi.
Nhưng toa ăn uống cũng trống không, chẳng có ai hiện diện ở trong. Cậu bé tiếp tục đi và chẳng hiểu sao chúng tôi vẫn cứ tiếp tục theo sát nó.
Cuối cùng chúng tôi đến toa gởi hành lý. Có hai người đàn ông đang ngồi ở trong và họ nhìn chúng tôi với những đôi mắt tò mò.
Cậu bé dừng lại, đưa tay chỉ:
- Đó, cha cháu đó.
Nó đang chỉ tay vào một chiếc quan tài.
Hai anh sinh viên đưa mắt ngó trừng trừng. Nhà doanh nghiệp thì thở gấp, gương mặt biến sắc hẳn đi.
- Họ bắn chết cha cháu ở Detroit - cậu bé cất tiếng, giọng nói nghe âm vang trong cái im lặng đổ xuống bất chợt.
- Này cháu - giọng vị thương nhân nghe không tự nhiên lắm lúc quay nhìn thằng bé - Cháu đã ăn uống gì chưa?
Thằng nhỏ lắc đầu. “Cháu đói”, nó nói bằng cái giọng lừ đừ, vô cảm, như thể cái nỗi tuyệt vọng về việc kiếm miếng ăn lâu lắm đã bão hòa trong cái cơ thể vốn ốm o, gầy mòn của nó. “Cháu vẫn thường nhịn đói ở Detroit. Tất cả chúng cháu. Lúc trước thì đỡ hơn, người đói có thể tìm được thức ăn thừa trong những thùng rác đặt trên đường phố - Nhưng từ khi họ đổ dầu hỏa vào trong chỗ thức ăn ấy thì thôi hết cách. Họ không muốn làm hại sức khỏe chúng cháu, không muốn chúng cháu ngộ độc khi ăn phải những thức ăn ấy.
Một anh sinh viên mỉm cười cay đắng:
- Người ta muốn thấy họ thà chết vì đói, còn hơn phải chết vì ngộ độc khi ăn những thức ăn thừa.
- Chúng ta phải chỉnh lại chuyện này ngay thôi - Vị thương gia nói, tránh cái nhìn của hai anh sinh viên - Cháu hãy theo ta vào toa ăn uống xem giờ này bồi có thể dọn cho cháu những thức gì nào.
Ông nắm lấy tay cậu bé và nhanh chóng kéo nó bước khỏi toa tàu.
Một anh sinh viên chợt cười lên khô khốc:
- Ông ta định dùng một giọt nước để chữa cháy cho cả tòa cao ốc đang chìm đắm trong biển lửa. Chúa ôi, còn hàng triệu người khác nữa, họ sẽ ra sao?
Phép lạ đầu tiên Truyện ngắn của Azorín (Tây Ban Nha)
Bêlem. Năm thứ nhất công nguyên.
Hoàng hôn dần buông xuống và những tia nắng cuối ngày hắt luồng ánh sáng yếu ớt qua vuông cửa sổ hẹp dưới hầm. Tất cả đều yên ắng. Hai tay ông lão cứ xoa mãi lên đống tiền vàng lấp lánh nằm trên bàn như thể chúng là một thứ bột nhào nào đó mềm mại, mịn màng lắm. Ông có bộ râu hoa râm dài thậm thượt và đôi mắt trũng sâu. Nắng tắt dần và bầu trời bên ngoài khung cửa sổ dưới hầm chỉ còn một màu nhợt nhạt, xam xám của thứ ánh sáng bị khuếch tán. Những đồng tiền vàng được bỏ trở lại vào một chiếc két sắt kiên cố, chắc chắn. Ông cài chốt cẩn thận, khóa hai lần; rồi chậm rãi leo lên chiếc cầu thang hẹp.
Bây giờ thì ông đang hiện diện trong ngôi nhà của mình. Ngôi nhà nằm ở vùng ngoại ô, có một vườn hoa rộng bao quanh, cùng một nhà phụ cất bên hông dành cho đám nông dân và bọn tôi tớ ở. Ông chậm rãi đi quanh nhà, ngón trỏ của bàn tay phải cứ khoan thai ve vuốt chiếc mũi khoằm mỗi khi ông cất bước. Bỗng, khi bước dọc theo một hành lang, ông chợt lưu ý đến một cánh cửa nhà bị mở tung - cánh cửa mà trước đây ông đã ra lệnh là lúc nào cũng phải khóa chặt. Ông lão dừng lại giây lát. Cơn giận lướt qua người và ông bất chợt hét toáng lên. Một người đầy tớ hốt hoảng chạy tới và lập tức hứng lấy cơn thịnh nộ. Ông bước đến gần, dí mũi sát vào mặt hắn và tới tấp chửi rủa, trong lúc anh chàng tội nghiệp ấy chỉ biết run rẩy và ấp úng nói những lời xin lỗi. Đoạn ông ta tiếp tục đi, nhưng chẳng mấy chốc lại dừng bước lần nữa. Lần này vì ông thấy những mảnh vụn bánh mì rơi vãi trên các thứ đồ đạc trong nhà. Điều này thì quả thật chưa có ai ở đây từng nghe nói tới. Ông hầu như không tin nổi mắt mình nữa. Đến mức này thì có nghĩa là cái lũ đầy tớ khốn kiếp kia muốn giở trò phá hoại đây mà. Rõ ràng là có ai đó đã đứng ở đấy ăn vụng bánh - mà bánh thì hiển nhiên được lấy trộm từ chạn thức ăn trong nhà bếp chứ còn đâu nữa - nên mới để vương vãi vụn bánh thế kia. Bây giờ thì cơn thịnh nộ của ông đã lên đến cực điểm. Tiếng la hét của ông nghe vang vọng khắp nhà. Mọi người, cả vợ con lão và lũ tôi tớ, đều đến tụ tập chung quanh với vẻ bối rối, sợ sệt. Và ông lại tiếp tục gân cổ buông ra những lời thóa mạ, chửi rủa.
Đã đến giờ ăn tối. Nhưng trước hết ông lão muốn trò chuyện cùng những người được phái đi làm nhiệm vụ giám sát mỗi tối vẫn trở về từ các nông trại gần đó. Họ phải báo cáo lại cho ông một cách tỉ mỉ, chi tiết những hoạt động của mình trong ngày. Nếu không được nghe những điều đó, đêm ấy ông sẽ chẳng tài nào ngủ được bởi cứ mãi trằn trọc, không hiểu những đồng tiền của mình, dù nhỏ nhặt đến đâu, đã được tiêu pha như thế nào và bọn đầy tớ giúp việc đã làm những gì, từng phút một trong ngày. Cứ thế, những lời tường thuật của bọn nông dân và những người giám thị sẽ lần lượt đan xen vào những lời thóa mạ chửi rủa ông. Bọn họ ai cũng sợ ông lão cả.
Vào cái đêm đặc biệt này anh chàng giữ việc chăn dắt đàn cừu lại trở về hơi muộn. Mọi ngày anh vẫn từ đồng cỏ trở về trước lúc ông lão ngồi vào bàn ăn tối một chút. Anh coi sóc một đàn dê cùng một bầy cừu nhỏ. Khi về đến nhà mỗi tối, anh thường nhốt chúng lại trong chuồng rồi đến trình diện trước mặt chủ mình để báo cáo công việc trong ngày. Ông lão có vẻ nôn nóng khi ngồi vào bàn ăn. Sự về muộn của chàng trai đã khiến ông bực dọc. Tình trạng này quả thật ít thấy. Ông giận dữ hét vào mặt một tên đầy tớ khi hắn chậm trễ trong việc dọn món ăn lên cho ông, và thế là luống cuống thế nào không biết hắn lại làm rơi một chiếc đĩa xuống sàn nhà. Vợ con ông lão ai nấy đều khiếp vía. Tai họa này chắc chắn sẽ nhấn chìm cả ngôi nhà vào cơn thịnh nộ. Và, thực tế, ông lão đã không ngừng hò hét thóa mạ trong suốt cả nửa giờ. Chàng mục tử rón rén vào cửa như một kẻ đang hồi hộp, chờ đợi bản án của mình được tuyên lên. Tình cảnh thế này mà đem việc chăn dắt ra thuật lại cho ông thì thật không phải lúc chút nào!
- Có gì lạ xảy ra không? - Ông lão hỏi.
Chàng trai ngập ngừng suy nghĩ trước khi trả lời:
- Xảy ra ư? Ông nói xảy ra nghĩa là sao ạ? - Cuối cùng anh nói tiếp - Không có điều gì lạ xảy ra cả, thưa ông.
- Cứ theo cái cách trả lời của mày thì hẳn đã có điều chi đó bất thường xảy đến rồi…
- Xảy đến, xảy đến sao cơ? - Anh chàng chăn cừu vò vò chiếc mũ trong tay mình với vẻ bối rối.
- Đồ ngu! Đồ khùng điên, đần độn! Mày trở nên ngọng nghịu từ lúc nào vậy hả? Hay là ma quỷ đã cắt mất lưỡi của mày rồi? Hãy nói rõ ra cho ta nghe coi, nói lớn lên…
Và chàng trai vừa cố gắng nói mà vừa run rẩy. Thực ra thì có điều chi bất thường xảy ra trong ngày hôm nay đâu. Dê, cừu như thường lệ, vẫn được dẫn đi ăn nơi các bãi cỏ dù có hơi xa một chút. Chúng vẫn khỏe mạnh, háu ăn như mọi ngày… Ông lão như đã mất hết kiên nhẫn:
- Mày có nói rõ ra không hở, thằng khốn? - Ông giận dữ hét lên.
Và liên tiếp ba bốn lần sau nữa anh chàng chăn cừu ấy vẫn khăng khăng lặp lại là không có điều gì lạ xảy ra cả. Không có gì lạ, chỉ trừ cái chuồng bò được dựng lên ở vùng đất giáp ranh thành phố, cạnh khoảng sân dùng để đập lúa - cả hai đều thuộc quyền sở hữu của ông lão - ở nơi ấy anh đã trông thấy nhiều điều trước đây chưa từng thấy bao giờ. Có nhiều người ở trong cái chuồng bò ấy lắm. Khi nghe điều này ông lão giật mình. Và không thể tự kiềm chế nổi nữa, ông bước đến cạnh chàng trai và hét lên oang oang:
- Có nhiều người ở trong cái chuồng bò đó à? Cái chuồng bò ở cạnh khoảng đất dùng cho việc đập lúa? Ồ… bộ bây giờ người ta không còn biết tôn trọng quyền sở hữu của người khác nữa hay sao chứ? Bọn chúng muốn làm cho tao phá sản, cho tao tàn mạt đây mà, có đúng thế không?
Cái chuồng bò ấy chỉ gồm bốn bức vách sơ sài đã xộc xệch, rệu rã cả rồi. Cánh cửa ra vào đã lung lay vì bị mối mọt ăn nên người ta có thể mở ra một cách dễ dàng. Một lỗ hổng nhỏ nom như cửa sổ nằm ở phần dưới một bức vách, ngó ra ngoài cái sân dùng để đập lúa. Có người hiện diện trong cái chuồng ấy; hẳn là họ sẽ trú qua đêm; cũng có thể là họ đã ăn dầm nằm dề ở đó nhiều hôm rồi. Lưu lại trên đất của mình, trên cái tài sản thiêng liêng của mình, vậy mà không có được một lời xin phép hay hỏi han gì cả! Một nỗi căm tức bùng lên mạnh mẽ như muốn đốt cháy tim gan ông. Đúng rồi, quả là đã có một âm mưu muốn phá hoại ông. Người nhà mình sao chẳng biết suy nghĩ gì cả, mà tính lại hay lãng phí. Có ai chịu quan tâm gì đến trang trại đâu! Lũ chúng nó đã đột kích vào quậy phá để khiến ta trở nên nghèo khó, khốn nạn. Tình hình thật là tồi tệ. Chưa từng có ai thấy cảnh này bao giờ. Chưa từng có ai dám xâm phạm đến tài sản, đất đai cũng như nhà cửa của ông. Đứng trước sự kiện kỳ quái, lạ lùng này ông lão quyết định sẽ đích thân đến đấy để xác minh, và nếu đúng thế, ông phải tống cổ cái bọn lang thang, lêu lổng này ra ngoài đường ngay mới được.
- Có những ai ở đó? - Ông hỏi anh chăn cừu.
- Dạ, một người đàn ông và một người đàn bà - Anh lưỡng lự đáp lại.
Thế là ông lão đứng dậy lấy cái mũ chụp lên đầu, tay nắm chặt cây can, hướng về phía cái sân đập lúa nằm ở phần đất giáp ranh thành phố mà tiến bước.
Đó là một đêm trong trẻo, quang đãng. Trên trời, ngàn vì sao lung linh, nhấp nháy trông như những mảnh vàng. Tất cả đều yên ắng. Sự tĩnh mịch của đêm dàn trải ra thật êm dịu và sâu lắng. Ông lão bồn chồn bước đi, người run lên vì giận dữ. Chiếc can của ông gõ lên đất cồm cộp theo nhịp bước. Trước sắc trắng của khoảng sân dùng để đập lúa phủ đầy tuyết, cái chuồng bò hiện ra lờ mờ từ xa trên nền trời xanh thẩm. Chẳng mấy chốc ông đã đến bên mấy bức vách đổ nát. Không muốn đường đột vào trong ngay trước khi có sự suy tính kỹ lưỡng, ông dừng chân một lúc, rồi chậm rãi bước đến gần cái lỗ hổng trên vách nôm như cánh cửa sổ mở ra ngoài khoảng sân đập lúa. Ánh sáng tỏa rạng từ bên trong. Ông lão nghiêng người về phía trước, kề sát cặp mắt ti hí của mình vào cái lỗ hổng nhỏ be bé ấy để nhìn vào, rồi bất chợt bật lên một tiếng kêu không kịp ghìm lại. Sự kinh ngạc đã khiến người ông đờ đẫn, choáng váng. Từ ngạc nhiên, sửng sốt, ông dần nhận rõ ra đây quả là một điều kỳ diệu. Ông lão nép người sát vào bức vách, bất động. Và cảm thấy khó thở. Chưa bao giờ ông trông thấy một cảnh tượng như thế này; thật vậy, hẳn mắt loài người chưa khi nào được chứng kiến những gì ông đang chứng kiến. Ông không thể quay nhìn đi nơi khác. Từng phút từng giờ lặng lẽ trôi qua. Những gì đang diễn ra ở trong cái chuồng bò này mới lạ lùng và kinh dị làm sao! Thời gian đã trôi qua bao lâu rồi nhỉ? Ồ, làm sao người ta lại có thể tính đến thời gian khi đứng trước một cảnh tượng phi thường như thế này? Dường như nhiều giờ, nhiều ngày, nhiều năm tháng đã trôi qua. Thời gian thì có nghĩa chi khi người ta được chứng kiến một sự kiện kỳ diệu, trọng đại, độc nhất vô nhị như thế này trên trần thế. Chìm đắm trong suy tư, ông lão chậm rãi quay bước trở về nhà. Bọn đầy tớ mở cửa chậm chạp khiến ông phải chờ lâu, nhưng ông chẳng nói gì. Ở trong nhà, một cô hầu vụng về đánh rơi nến xuống đất khi đang thắp cũng chẳng hề bị trách mắng lấy một câu nhỏ. Vẻ suy tư, với chiếc đầu trầm ngâm cúi xuống, ông bước lặng lẽ qua các hành lang như một bóng ma. Bà vợ, khi bước ra đón ông từ phòng khách, vô ý vấp phải vật gì đó dưới đất khiến nhiều pho tượng nhỏ rơi xuống sàn nhà vỡ tan. Nhưng ông chẳng buông ra một câu phiền hà chửi rủa nào. Bà lùi lại ngạc nhiên. Mọi người trong nhà ai nấy đều sửng sốt trước cái vẻ hiền hậu, ôn nhu khác thường ấy của ông lão, trong khi ông, ngồi trong một chiếc ghế bành lại như lạc mất trong cõi trầm tư. Khi ông ngủ thiếp đi và được người ta đánh thức, thì như đứa trẻ, ông ngoan ngoãn để họ đưa mình vào phòng và thay quần áo cho.
Sáng hôm sau ông vẫn đắm chìm trong sự im lặng. Những kẻ hành khất đến gõ cửa nhà được ông bố thí cho từng vốc những đồng tiền bằng bạc. Miệng ông không còn thốt ra những lời nóng giận thô bạo nào nữa dù nhỏ nhất. Mọi người ai nấy đều bối rối. Ông đã chuyển biến từ một con người tàn bạo, quái ác trở nên một đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn. Vợ và các con ông hết sức lo âu. Họ không thể tưởng tượng nổi một sự thay đổi như thế lại có thể xảy đến trong gia đình mình. Hẳn phải có một điều gì đó rất ghê gớm đã xảy ra trong cái đêm ông đi tới chuồng bò và sân đập lúa kia. Cái vẻ nhu mì, hiền hậu của ông bây giờ nom ra lại còn đáng sợ hơn cái tính khí hung hãn bạo ngược vốn có trước đây; sự thay đổi này có thể là dấu chỉ của một thứ bệnh trầm kha nào đấy. Lặng lẽ, lo âu và đầy nghi vấn, họ kiên nhẫn quan sát ông. Họ không dám tự đến gần để hỏi han, còn ông thì cứ giữ mãi thái độ im lặng. Cuối cùng, không chịu nổi, bà vợ dè dặt nêu lên những thắc mắc khi có dịp tiếp cận cùng ông. Họ có một cuộc trao đổi với nhau thật lâu, nhưng ông lão nhất định không chịu tiết lộ bí mật của mình. Tuy vậy, sau rất nhiều lời lẽ dịu ngọt đầy vẻ quan tâm của người vợ hiền hậu ấy, cuối cùng ông cũng đành bật mí. Khi ông kề miệng vào tai bà thì thầm thuật lại cái sự kiện xảy ra tối hôm ấy, người ta thấy mặt bà lộ hẳn vẻ sững sốt.
- Sao, ba vị vua và một hài nhi vừa mới sinh ra đời à!
Bà không thể tự kiềm chế để khỏi bật lên tiếng kêu như thế.
Ông chồng vội đưa ngón tay đặt lên môi mình, ra dấu cho bà hãy giữ im lặng. Vâng, dĩ nhiên là bà phải giữ kím chuyện này. Nhưng bà cũng hiểu là từ nay không biết mình sẽ phải suy nghĩ ra làm sao nữa. Người đàn bà hiền lành này không thể biết đích xác được điều nào tệ hại hơn, cái tính hung bạo trước đây của chồng mình hay là sự cuồng trí của ông ta hiện tại. Ba vị vua cao sang thế mà lại có mặt trong một cái chuồng bò bẩn thỉu cùng một đứa trẻ vừa mới sinh ra! Rõ ràng là trong cuộc tản bộ buổi tối hôm ấy, có điều gì đó bất ổn đã xảy đến cho ông ta. Dần dà thì cái tin bà chủ đã rõ được điều bí mật của ông lão cũng loan đi khắp nhà. Bọn trẻ bu lại hỏi mẹ. lúc đầu bà không chịu nói, nhưng rồi chẳng mấy chốc, không cầm lòng nổi bà cũng gọi cô con gái cưng đến để rỉ tai cho nó nghe chuyện bí ẩn của cha mình. Và phản ứng của cô ta cũng phát lộ ra ngay tức khắc.
- Ôi, cha tội nghiệp của con! Cha mất trí mất rồi!
Kẻ hầu người hạ trong nhà ai cũng biết là các cô cậu chủ nhỏ đều thông tỏ cái lý do vì sao ông chủ của mình luôn giữ im lặng. Họ không dám trực tiếp hỏi họ, nhưng một người đàn bà có thể gọi là thân tín đã giúp việc cho gia đình này hơn ba mươi năm, không kiềm chế nổi cuối cùng đã lân la nêu thắc mắc cùng một cô con gái. Và cô này cũng không phụ lòng đã tiết lộ cho bà nghe điều bí mật ấy.
- Ồ, vậy là ông ấy cuồng trí mất rồi, ông chủ tội nghiệp của tôi! - Người đàn bà ấy buồn bã kêu lên.
Bằng cách rỉ tai nhau như vậy, dần dà rồi người nào trong nhà cũng biết về cái tin ấy. Vâng, ông chủ của họ đã mắc phải một chứng cuồng trí rất lạ lùng; và bất cứ khi nào nói về ông, họ cũng đều lắc đầu tỏ vẻ thương cảm. Ba vua và một hài nhi cùng có mặt trong một cái chuồng bò! Ông chủ của họ thật đáng tội nghiệp!
Và ông lão có bộ râu dài thậm thượt ấy cứ ngồi nhìn ngày tháng thong thả trôi đi, không tỏ ra nôn nóng, cáu kỉnh, hay bực bội. Ông trở nên hòa nhã khoan dung rất mực, luôn giúp đỡ vật chất tiền bạc cho những kẻ nghèo khổ bần hàn, và khi trò chuyện với ai thì luôn dùng những lời lẽ hết sức dịu dàng êm ái. Mọi người trong nhà cũng hoang mang, ngơ ngác, thậm chí còn buồn rầu nữa, và nhìn ông với cái nhìn xót xa. Ông chủ của họ đã mất trí; đó là cái lý do duy nhất hợp lý để giải thích tình trạng của ông hiện tại. Ba ông vua ngụ trong một cái chuồng bò! Bà vợ của ông đành mời một vị bác sĩ nổi tiếng đến nhà để trị liệu. Ông này là một người thông thái, rất am hiểu các chứng bệnh và những loại dược thảo. Khi đến nhà, ông được đưa vào gặp người bệnh và thấy ông lão rất dễ thương, sẵn sàng làm theo bất cứ điều gì mình yêu cầu. Ông ấy như một đứa trẻ vậy, yếu ớt, ngoan ngoãn. Vị bác sĩ bắt đầu khám bệnh. Ông chăm chú hỏi ông lão về cuộc sống, những thói quen cũng như các loại thực phẩm thường dùng. Ông lão mỉm cười dịu dàng. Và khi ông tiết lộ điều bí ẩn của mình sau một cuộc chất vấn dài dằng dặc, vị bác sĩ gật đầu ra vẻ đồng tình, cái cách người ta vẫn thường làm với những câu chuyện huyền hoặc phi lý người cuồng trí đưa ra để khỏi làm phật lòng thân chủ của mình.
- Vâng, vâng! - Vị bác sĩ nói - Đương nhiên điều ấy hoàn toàn có thể. Phải lắm, ba ông vua và một đứa trẻ vừa sinh ra cùng ở chung trong một cái chuồng bò.
Và một lần nữa ông lại gật đầu. Khi từ giã ra về, vị bác sĩ ấy nói với vợ ông lão khi hai người đứng ngoài hành lang:
- Đây chỉ là một dạng mất trí nhẹ. Vô hại, bà đừng lo lắng gì cả. Ông ấy hơi “mát” một chút, nhưng vô hại. Không có cách trị liệu đặc biệt nào đâu. Chúng ta hy vọng rằng…
Võ Trung Hiếu Dịch theo bản tiếng Anh “The first Miracle” của John M. Flores
1 người đang truy cập diễn đàn này (1 khách và 0 thành viên giấu mặt)
0 Thành viên:
Trả lời mới Không có trả lời mới Chủ đề nóng (Mới) Chủ đề nóng (Cũ)
Bình chọn (Mới) Bình chọn (Cũ) Chủ đề đã khóa Chủ đề đã chuyển