Jump to content

Nguyễn Bảo Sinh

Thành viên
  • Số bài viết

    53
  • Gia nhập

  • Đăng nhập

  • Nổi bật trong ngày

    4

Mọi thứ được đăng bởi Nguyễn Bảo Sinh

  1. Ngủ đi hãy ngủ đi em Đời là như thế dậy xem làm gì Dậy đi em hãy dậy đi Đời là huyễn mộng có gì mà mơ Nợ tiền trả hết là xong Nợ tình càng trả cang phong lưu tình Yêu như ngọn gió thổi chơi Bỗng dưng thổi dạt hai người vào nhau Yêu đừng hẹn trước thề sau Khi yêu mới biết mình đâu của mình
  2. Ngủ đi hãy ngủ đi em Đời là như thế dậy xem làm gì Dậy đi em hãy dậy đi Đời là huyễn mộng có gì mà mơ Nợ tiền trả hết là xong Nợ tình càng trả cang phong lưu tình Yêu như ngọn gió thổi chơi Bỗng dưng thổi dạt hai người vào nhau Yêu đừng hẹn trước thề sau Khi yêu mới biết mình đâu của mình
  3. Ngủ đi hãy ngủ đi em Đời là như thế dậy xem làm gì Dậy đi em hãy dậy đi Đời là huyễn mộng có gì mà mơ Nợ tiền trả hết là xong Nợ tình càng trả cang phong lưu tình Yêu như ngọn gió thổi chơi Bỗng dưng thổi dạt hai người vào nhau Yêu đừng hẹn trước thề sau Khi yêu mới biết mình đâu của mình
  4. Chùa to Phật có to đâu? Phải chi tốt lễ dễ cầu Phật thương Cố tình đốt quá nhiều hương Khói xuống âm phủ Diêm Vương phạt tiền Người bảo chân lý hướng này Thì chân lý cũng ở ngay ngược chiều Ở đời có ghét mới yêu Chân như quay khắp bốn chiều đều như
  5. Chùa to Phật có to đâu? Phải chi tốt lễ dễ cầu Phật thương Cố tình đốt quá nhiều hương Khói xuống âm phủ Diêm Vương phạt tiền Người bảo chân lý hướng này Thì chân lý cũng ở ngay ngược chiều Ở đời có ghét mới yêu Chân như quay khắp bốn chiều đều như
  6. Giáo Đường Vào chùa Lễ Phật thấy sư Người người cúi lạy cái lư hương đồng Miệng cầu sắc sắc không không Đầy trời sắc,thế còn không đâu rồi Hận đời cắt tóc đi tu Thì chỉ được gọi là tù mà thôi Quá yêu say đắm sự đời Đi tu mới được về nơi niết bàn Cây muốn lặng mà gió chẳng đừng Trách ai mang chiếc lược sừng tặng sư Khiến lòng sư những ngẩn ngơ Nửa mong mọc tóc nửa mơ trọc đầu
  7. Đôi ta trên một con đò Vạch thuyền đánh dấu ai ngờ sông trôi Hẹn lời phải giữ lấy lời Biết đâu lời của mỗi người là sông Sông nào cũng chảy xuôi dòng Trăng lặn cũng chỉ ở trong bầu trời Chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi Thì ta vẫn cứ phải trôi theo thuyền
  8. Đôi ta trên một con đò Vạch thuyền đánh dấu ai ngờ sông trôi Hẹn lời phải giữ lấy lời Biết đâu lời của mỗi người là sông Sông nào cũng chảy xuôi dòng Trăng lặn cũng chỉ ở trong bầu trời Chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi Thì ta vẫn cứ phải trôi theo thuyền
  9. Tiền Khi mê bùn chỉ là bùn Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen Khi mê tiền chỉ là tiền Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm Tìm tiền ở chỗ người đông Tìm người ở chỗ mênh mông đất trời Tìm tiên ở chỗ ăn chơi Tìm đạo ở chỗ cõi người cực đau
  10. Danh Trăng qua cửa sổ trăng vuông Gió dẹt mình xuống để luồn mái tranh Con người muốn lọt vào danh Thì mình phải tự ép thành cái tên Nhân Cảnh Ngồi nhìn non bộ đứng im Ngắm cá trong chậu ,xem chim trong lồng Cây si bẻ quặt uốn cong Còn mình tự nhốt vào trong lẽ đời Tu Tự trói thì gọi là tu Bị trói thì gọi là tù mọt gông
  11. Muốn so thơ dở thơ hay So bồ của họ biết ngay thôi mà Nghe Bồ đọc thuộc thơ ta Sướng hơn được giải gọi là nobel Muốn cho trộm chẳng đến nhà Đề vào trước cửa:đây là nhà thơ Muốn đuổi khách ra khỏi nhà Đọc thơ được giải họ ra tức thì Biết bao thi sĩ vô danh Nhưng vần thơ lại trở thành ca dao Biết bao thi sĩ ngôi sao Suốt đời chẳng để câu nào cho ai
  12. Muốn so thơ dở thơ hay So bồ của họ biết ngay thôi mà Nghe Bồ đọc thuộc thơ ta Sướng hơn được giải gọi là nobel Muốn cho trộm chẳng đến nhà Đề vào trước cửa:đây là nhà thơ Muốn đuổi khách ra khỏi nhà Đọc thơ được giải họ ra tức thì Biết bao thi sĩ vô danh Nhưng vần thơ lại trở thành ca dao Biết bao thi sĩ ngôi sao Suốt đời chẳng để câu nào cho ai
  13. Tự nhiên chờ cái đến Thanh thản tiễn cái đi Yêu những điều không muốn Tâm nhàn hơn mây trôi ----Vạn Sự Như ý---- Trong mười điều chín không như ý Còn một điều lại ý chẳng như Muốn cho vạn sự đều như ý Cần một điều biến ý thành như
  14. Rồi sẽ hiểu ít nhiều đều là đủ Trẻ hay già vô nghĩa trước mai sau Vua ôm ấp bao cung tần mỹ nữ Chẳng khác gì người cùng khổ ôm nhau Tiền ít tiêu ít cũng vừa Tiền nhiều tiêu lắm có thừa gì đâu Ai cũng học đạo ngộ đầy Mấy ai ngộ thiếu học thầy ngộ vơi Bỏ cả giang sơn vì người đẹp Biết đâu người đẹp thích giang sơn
  15. Ngày Xưa Ngày xưa trái đất hình vuông Cho nên đi đứng trên đường thẳng hơn Bây giờ trái đất hình tròn Cho nên ai cũng lom khom định bò Ngày xưa đất rẻ như bèo Tường đông ong bướm bay vèo là sang Dậu mùng tơi cạnh nhà nàng Nay xây tường kín xin chàng bấm chuông Ngày xưa cối nhỏ chày to Bây giờ cải tiến cối to hơn chày Ngày xưa một cối một chày Bây giờ nhiều cối nhiều chày giã chung Tiến lên thế giới đại đồng Chày ngoại cối nội đều dùng như nhau -Nguyễn Bảo Sinh-
  16. Hoàng đế - Càn Long Cung phi ngủ với con trời Chứ đâu ngủ với cái tôi của mình Càn Long rời bỏ cung đình Để đi tìm những mối tình không vua Càn Long vào chốn lầu xanh Hưởng trinh bạch giữa ô danh dâm tình Thúy Kiều,Từ Hải ,Thúc sinh Cả ba đắc đạo mối tình thanh lâu Đáy lòng của gái mại dâm Đều mơ thánh thiện thánh nhân trên đời Đáy lòng thiên tử - con trời Mong tận hưởng hết muôn đời mỹ nhân Tâm tà sợ kính chiếu dâm "Lộn lèo" run sợ thơ Xuân Hương Hồ
  17. Bước chân vào chốn lầu xanh Khinh em là chính tự anh khinh mình Trách em tham lợi vô tình Chính anh đã tự trách mình vô duyên Chợ đời mua chữ bán lời Chợ đạo họ bán cả trời cho nhau Chợ tình em bán nỗi đau Bán non cả cái kiếp sau cho trời Người thường thấy cánh hoa rơi Hai chân di nát không chơi hoa tàn Mấy ai khóc mộ hồng nhan Mấy ai quét cánh hoa tàn về chôn Đỗ Phủ đêm đông thương hàn sỹ Ai thương kĩ nữ lúc tàn xuân
  18. Bước chân vào chốn lầu xanh Khinh em là chính tự anh khinh mình Trách em tham lợi vô tình Chính anh đã tự trách mình vô duyên Chợ đời mua chữ bán lời Chợ đạo họ bán cả trời cho nhau Chợ tình em bán nỗi đau Bán non cả cái kiếp sau cho trời Người thường thấy cánh hoa rơi Hai chân di nát không chơi hoa tàn Mấy ai khóc mộ hồng nhan Mấy ai quét cánh hoa tàn về chôn Đỗ Phủ đêm đông thương hàn sỹ Ai thương kĩ nữ lúc tàn xuân
  19. Thời nay Sống như Tây nghĩ như Ta Cội nguồn đau khổ chính là từ đây Sống ở Ta nghĩ như Tây Khác gì ta phải nghe Tây hát chèo Đi đái thì đứng giữa đường Hôn nhau lại nấp sau tường để che Đậm đà bản sắc chân quê Thanh lâu xóa sạch cave đầy đường Ngày xưa đất rẻ như bèo Tường đông ong bướm bay vèo là sang Dậu mùng tơi cạnh nhà nàng Nay xây tường kín xin chàng bấm chuông
  20. Tình Đạo Phật (2) Tình nào cũng mối tình đầu Không ai đến được nơi đâu hai lần Không gì cũ như mùa xuân Mỗi lần xuân đến vẫn lần đầu tiên Quanh năm trăng sáng trăng tròn Thì rằm tháng 8 đâu còn trung thu Khi tình tuyệt đẹp như mơ Là tình yêu đến phút giờ biệt ly Yêu nhau giây phút đầu tiên Đắm say là lẽ tự nhiên trên đời Chia tay vẫn giữ nụ cười Thì tình yêu ấy muôn đời không phai -Nguyễn Bảo Sinh-
  21. Định Nghĩa Tình Yêu Yêu là nhớ ít tưởng nhiều Yêu là chẳng hiểu mình yêu cái gì Yêu nhau đâu bởi hàng mi Đắm say đâu phải chỉ vì đôi môi ----------- Yêu là yêu --------------------- biết thế thôi Yêu nhau phải có 4 người Hai người là thực, hai người là mơ Ghét nhau phải có 4 người Hai người là thực đang mơ ngược chiều Nghĩ về em anh là nhà triết lí Cảm về em anh chỉ để làm thơ Còn khi yêu em vừa thực vừa mơ Không triết lí ,chẳng làm thơ ---------------------------- mà hiện hữu Nguyễn Bảo Sinh
  22. Gia nhập WTO Gia nhập vê kép tê ô Xuất tinh thì ít xuất thô thì nhiều Giao lưu văn hóa càng nhiều Giao mà không hợp bao nhiêu cũng thừa Tự do sướng nhất trên đời Tự lừa lại sướng bằng mười tự do Làm hàng giả tù mọt gông Làm lịch sử giả lại không việc gì Sống mà phải xã giao nhiều Mệt hơn phò phạch phải chiều lắm anh -Nguyễn Bảo Sinh-
  23. Ái tình nếu uống đủ liều Loài người sẽ thoát được điều tà dâm Ai ai cũng sống khỏa thân Mặc quần sẽ lại khiêu dâm mọi người Hôm xưa lên tỉnh về làng Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi Bây giờ quần trễ rốn lồi Khổ tôi khổ cả bố tôi đang thiền Mặc quần chẳng để mặc quần Mặc quần chỉ để khi cần cởi ra Em dại tụt quần quá nhanh Nếu mà tụt chậm em thành phu nhân -Nguyễn Bảo Sinh-
  24. THIỀN NHÂN DƯỜNG NHƯ DƯỜNG NHƯ THIỀN NHÂN Phật Tổ Như Lai khi đánh giá một vấn đề chỉ dậy là “dường như đúng”. Ngay như kinh, Phật cũng chỉ cho là dường như đúng. Phật dậy: “49 năm giảng đạo, ta không nói một lời nào”. Sao vậy? Vì theo Phật: lý của vũ trụ không lời, ai nói đúng cái lý của vũ trụ là vô ngôn: “Lý của vũ trụ không lời Sách là sai đúng của người viết ra Không sách ta chẳng thành ta Không xé sách cũng không ra con người” Sách cũng như vỏ trứng, không có vỏ trứng không có gà con, không phá vỡ vỏ trứng cũng không có gà con, nên: “Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan”, nhưng nếu: “ly kinh nhất tự tất đồng ma thuyết”. Gớt – nhà thơ, nhà triết học Đức – viết: “Mọi lý thuyết đều xám nghoét, chỉ có cây đời là mãi mãi xanh tươi”. Tất cả mọi lời nói không thể diễn tả hết được hiện thực, lời như ngón tay chỉ cho ta thấy mặt trăng, nhưng lời không phải là mặt trăng. Phật dậy: “Lời dẫn ta tới chân lý, nhưng lời không phải là chân lý, nhiều khi lời lại che cả ánh sáng của tâm”. Khi sơ tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận Huệ Khả làm nhị tổ thiền, vì Hụê Khả đã thể hiện nhất tâm bất loạn theo thiền, bằng cách tự chặt một cánh tay của mình để mong được Đạt Ma an tâm cho mình. Đạt Ma bảo Huệ Khả đưa tâm ra để Đạt Ma an định. Huệ Khả thưa: - Con không biết tâm ở đâu cả. Đạt Ma dậy: - Ta đã an tâm cho con rồi! Sau đó, Đạt Ma hỏi vì sao mà Huệ Khả lại chặt một cánh tay tỏ tâm thiền và để được Đạt Ma sư tổ nhận làm đệ tử? Hụê Khả không trả lời. Đạt Ma gặng hỏi, Hụê Khả im lặng. Đạt Ma gặng hỏi tiếp, Hụê Khả gượng trả lời: - Con không dám nói, vì không lời nào có thể diễn tả hết tâm thiền của con. Tất cả mọi lời nói chỉ dường như đúng mà thôi! Hiện hữu là chân lý toàn thể, lời chỉ diễn tả được chân lý bộ phận. Cho nên, thiền nhân hiểu được mọi lời nói chỉ là dường như đúng. Do đó, thiền nhân chỉ dám nói về vạn pháp là dường như, dường như thế này, dường như thế kia… Từ chỗ cho rằng lời nói của mình là chắc chắn đúng, đến khi nhận được lời nói chỉ dường như đúng có khi phải mất vài chục năm may ra mới ngộ được chân lý: dường như. Các cụ già, những người ngộ đạo thường mũ ni che tai, càng ngày càng ít nói. Thậm chí, họ vào nơi rừng hoang núi vắng làm ẩn sỹ, vì họ hiểu được mọi lời nói của họ cũng chỉ dường như đúng. Lão Tử viết: “Người biết thì không nói, người nói thì không biết”. Mọi sự, mọi việc đều duyên ai phận nấy, hoạ phúc liền kề, nên thiền nhân không thể khẳng định là việc này là hoàn toàn phúc hay hoàn toàn hoạ, mà là phúc hoạ khôn lường. Lý trí y học phương Tây cho rằng: người sống là tim còn đập, chết thì ngược lại. Còn thiền nhân thì cho rằng: tất cả mọi người chỉ dường như sống. Vì rằng, trong một ngày cơ thể ta có hàng tỷ tế bào sinh ra và hàng tỷ tế bào chết đi. Vậy, ta đang vừa sống, vừa chết… Napoléon cao 1,58m, sỹ quan cận vệ cao 1,7m. Sỹ quan cận vệ nói cao hơn hoàng đế 12cm. Napoléon tuyên bố cao hơn sỹ quan cận vệ 12cm nếu tính từ đầu lên trời. Có một anh chàng đẹp trai chê ông già xấu xí. Ông bảo: - Anh chỉ dường như đẹp thôi, vì nếu như đi ăn xin thì ông già lại được coi là đẹp, được nhiều người bố thí. Thiền nhân ngộ được lời nói “dường như” là đã ngộ được tánh không của đạo Phật, thuyết tương đối luận của Anhstanh: “Mình ngu nhiều kẻ ngu hơn Cho nên được gọi là khôn hơn người Em xinh đâu bởi nụ cười Em xinh là bởi nhiều người xấu hơn” Nếu thế giới chỉ có một người thì người đó không nam, không nữ, không xấu, không đẹp…Xấu, tốt có là do so sánh, nên chỉ là tương đối, còn tự tánh là không. Trong phim “Người thứ 41”, diễn tả một cô gái Hồng quân Liên Xô và tên Bạch vệ lạc vào đảo hoang vắng. Lúc đó, họ chỉ có cách là yêu nhau. Chỉ khi chiếc thuyền Bạch vệ đến cứu, thì người Bạch vệ vội chạy lên thuyền. Lúc đó, cô gái mới chợt nhận ra mình là Hồng quân, cô gái đã giương súng bắn chết người Bạch vệ mà trước đó vừa là chồng mình. Vạn pháp là dường như. Thiền nhân dường như đã quán chiếu được kinh dịch, thái cực chứa sự biến hoá của âm, dương. Thái cực là vạn pháp, trong đó chỉ dường như âm hoặc dường như dương. Lẽ huyền vi của Tạo hoá là “dường như”. Một người mẹ có một đứa con nghiện kêu cực khổ. Khi một người mẹ có bốn đứa con nghiện mà cai nghiện được một người thì người mẹ đó lại cho là sung sướng, là nhà có phúc. Nên thiền nhân coi sướng, khổ chỉ là dường như. Có người suốt ngày kêu khổ. Khi bạn đèo xe máy bị ô tô đâm, anh bạn chết ngay, còn anh ta bị cưa một chân, cắt một thận, gẫy một tay. Anh ta lại cười và cho rằng mình có phúc, chắc mình đã tu từ mười kiếp trước, nên chui vào gầm ô tô mà không chết. Vua ngủ với cung tần mỹ nữ không sướng gì hơn kẻ ăn mày giao hoan với nhau nơi màn trời chiếu đất: “Rồi sẽ hiểu ít nhiều đều là đủ Trẻ hay già vô nghĩa trước mai sau Vua ôm ấp bao cung tần mỹ nữ Sướng hơn gì người cùng khổ ôm nhau” Ngũ Tổ Huệ Năng hỏi các đệ tử: - Gió thổi làm cờ bay, hay cờ bay làm gió thổi? Các đệ tử, người thì bảo gió thổi làm cờ bay, người thì cho rằng cờ bay thành gió thổi. Ngũ Tổ Hụê Năng khai ngộ: - Gió chẳng thổi, cờ chẳng bay, chỉ có tâm các đệ tử động mà thôi. Vạn pháp do tâm sinh. Nên mọi sự, mọi vật chỉ dường như. Thiền nhân thấy đủ trong cái đủ, và cả đủ trong cái thiếu. “Ai cũng học đạo ngộ đầy Mấy ai ngộ thiếu học thầy ngộ vơi” Thấy được đủ trong cái thiếu, nên thiền nhân là dường như. Người dường như thấy được “một vừa hai phải”, nghĩa là thiền nhân bao dung được chân lý thiếu là đủ. Thiền nhân như thái cực, chứa cả âm lẫn dương và thấy vạn pháp do tâm sinh, nên mọi sự chỉ dường như đúng. Chân lý dường như đúng khác với kẻ ba phải. Kẻ ba phải nhìn thấy âm tách khỏi dương và nằm ngoài thái cực. Còn thiền nhân dường như thấy được thái cực biến hoá theo âm dương (lưỡng nghi), lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái… Đó là càn khôn biến hoá thành dường như. Tình ái cũng chỉ nằm trong dường như: “Yêu sao giây phút dường như Cho nhau những cái còn chưa của mình Buồn sao hình chạm vào hình Đôi bong bóng đụng hồn mình chợt tan” Ngộ được pháp dường như ta nắm được chữ thời, con người cần theo chữ thời. Kinh dịch là thời. Cao thủ thua tranh thủ, vì tranh thủ thuận theo thời: “Nhân gian trong một chữ thời Kẻ nào đi trước thành người đến sau Sao cho vẫn cứ cùng nhau Vừa đi được trước, vừa sau mọi người” “Cái đang là mốt nhất đời Tốt hơn sẽ bị mọi người xét oan” Cuộc đời là: “thế chiến quốc, thế xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”. Vậy nên, ta cần sống một cách quân bình, thắng bại cuộc đời bởi duyên, nên “ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ kém ai”. Đúng, sai bản tánh vốn không. Lời ta nói hôm nay đúng, thì trước và sau đó có thể sai. Đúng với dân tộc này không có nghĩa là đúng với dân tộc khác. Nhân sinh bách thái. Vì thiền nhân hiểu được lẽ chân như, cho nên thiền nhân chỉ dường như. Đạo đức, pháp luật của đạo Gia Tô một vợ, một chồng. Pháp luật của đạo Hồi đa thê. Cho nên, cái cân công lý của pháp luật mọi nước chỉ dường như đúng. Khi ta quán chiếu được dường như, ta nhập vào đạo trời đất, là sắc sắc không không. Lúc này, tâm hồn thiền nhân sẽ phiêu diêu thoát tục, hồn thiền nhân như ra khỏi thân thể để hoà tan vào vũ trụ. Nhưng, nếu trong giây phút đó mà thiền nhân không đủ chân khí để thu tàng A Lại Da Thức, thì ma – hay gọi là vô minh – sẽ nhập vào thể xác họ, họ sẽ bị tẩu hoả nhập ma. Từ chỗ ngộ được đạo trời dường như – sắc sắc không không – thiền nhân dễ biến thành ba phải, đâm rụt rè, không dám hành động. Thiền nhân dường như tức là biết khi cứng, khi mềm, khi tiến, khi thoái, lấy bất biến để ứng vạn biến. Hiểu tận cùng đạo dường như trở thành tự do tuyệt đối: “Không gì cứng được bằng thiền Không gì mềm được như thiền để so Cứng mềm để được tự do Không vì ngoại lực làm cho cứng mềm” Dường như ngộ được vạn biến, như người chơi xổ số không biết là số độc đắc về đâu. Nhưng cái vạn biến này thì ông giám đốc công ty xổ số lại nắm chắc được cái bất biến: Ông ta lấy 40% số tiền vé để bỏ túi, hoặc để kiến thiết đất nước. Ông giám đốc công ty xổ số nắm được cả hai mặt của đạo dường như, hiểu cái bất biến trong cái vạn biến, nên tâm ông giám đốc thiền. “Mua vé xổ số quay rồi Là ta đã trở thành người vô vi” Còn người mua vé xổ số chỉ nắm được một mặt của dường như nên tâm hồn thường bất an. Thiền nhân dường như ở chỗ chấp nhận cả đúng lẫn sai đều dường như đúng, sai. Và thường cái xấu dễ thắng cái tốt. Nhưng tất cả tốt, xấu đều nằm trong luật nhân quả. Kẻ xấu chắc chắn có báo ứng, ở hiền gặp lành, gieo gió sẽ gặp bão. Đấy là luật bất biến của vũ trụ: “Đạo cao một thước Ma cao một trượng Cửa Phật bao dung Đừng quên báo ứng” Theo thiền học, ta ngộ thiền theo ba bước: * Bước thứ nhất: khẳng định, thấy núi là núi, sông là sông. * Bước thứ hai: phủ định, thấy núi không phải núi, sông không phải sông. * Bước thứ ba: phủ định của phủ định, lại thấy núi là núi, sông là sông. Khi ta phủ định cái phủ định, ta thành đạo dường như. Dường như thiền nhân hiểu được cả hai mặt của dường như, nên thành người rất quyết đoán và kiên định. Kiên định của dường như thấy sự biến đổi của vạn pháp trong luật nhân quả. Có một ông trưởng giả đến năm sáu mươi tuổi mới sinh được đứa con trai. Khi đứa trẻ được đầy năm, ông ta mừng cảnh lão bạng sinh châu, đã bỏ ra 200 lạng vàng để tổ chức lễ đầy năm của quý tử. Hôm sau, con ông ta chết liền, ông khóc lóc thê thảm. Một thiền sư nói với ông: - Kiếp trước, ông nợ đứa con ông 200 lạng vàng. Kiếp này, ông đã chi 200 lạng để làm lễ đầy năm, coi như hết nợ. Ông khóc lóc làm gì. Nếu ông không làm lễ đầu năm hết 200 lạng, thì con ông sẽ sống đủ đến khi ông phải trả 200 lạng. Còn nhà thơ Tô Đông Pha tự cho mình đắc đạo thiền, đã làm bài thơ: “Dù cho bão thổi chín phương, tám hướng tâm vẫn kiên định”. Sau khi làm xong, cho người bơi thuyền sang sông gửi cho thiền sư Phật Ấn và chờ được Phật Ấn điểm đạo khen ngợi. Thiền sư Phật Ấn đề vào bài thơ hai chữ: “Đánh rắm!”. Tô Đông Pha tức giận bơi thuyền qua sông mắng mỏ thiền sư Phật Ấn một thôi, một hồi. Thiền sư Phật Ấn mỉm cười bảo: - Ông bảo, dù bão nổi tám hướng, tâm ông không lay động. Mà ta chỉ đánh cái rắm thì lòng tham, sân, si của ông đã thổi bạt ông qua sông rồi. Lại có lần, Tô Đông Pha tổ chức tiệc mừng có nàng hầu thứ bẩy tài sắc song toàn và sang sông báo hỷ cho thiền sư Phật Ấn. Thiền sư đặt bẩy cái hoả lò, rồi bầy cho Tô Đông Pha nhẩy qua, nhẩy lại. Tô Đông Pha hỏi để làm gì? Phật Ấn nói: - Bẩy cái lò lửa là bẩy lò ái dục được nung bằng lửa tam muội. Tô Đông Pha hoát nhiên đại ngộ, bỏ không cưới cô hầu nữa. Dường như thiền sư đã thấy được trong cái phúc được hưởng cô hầu xinh đẹp, thì cái hoạ lớn cũng đang đến, nên thiền sư Phật Ấn coi lễ song hỷ chỉ dường như hỷ, vì thiền sư thấu hiểu sâu xa luật nhân quả. Cũng như truyện “Tái ông thất mã tam tri phi phúc” kể: có một ông lão bị mất con ngựa cái, ai đến cũng tìm cách chia buồn. Ông lão bảo chỉ có dường như buồn thôi. Mấy hôm sau, con ngựa cái lại dắt thêm con ngựa đực về. Mọi người đến chia vui, ông lão bảo chỉ dường như vui thôi. Sau đó, đứa con trai của ông cưỡi thử con ngựa đực, bị ngựa đá què chân. Mọi người chia buồn, ông lão lại bảo chỉ dường như buồn thôi. Sau đó, có chiến tranh, tất cả mọi trai trong làng đi lính đều chết trận. Cậu con trai què của ông lão là của quý hiếm, thả sức được chọn gái đẹp trong làng làm vợ. Ông lão dường như đã hiểu được sự biến hoá huyền vi của hoạ, phúc. Thiền nhân như mây trắng bay giữa trời, sống hoà nhập vào tự nhiên một cách tuỳ duyên. “Ta như mây trắng giữa trời Ngắm nhìn thiên hạ đang ngồi máy bay” Thiền nhân hiểu luật của Tạo hoá là sắc sắc không không. Thiền nhân cho đúng hay sai chỉ dường như, nên tâm an, phúc lạc. Sống trong thị phi, coi thị phi chỉ dường như, thiền sư đã hoát ngộ khỏi thị phi: “Người ghi bia đá để đời Còn ta bia trắng để người tự ghi” Phật thuyết pháp theo nhiều cách khác nhau. Đạo khả đạo phi thường đạo, danh khả danh phi thường danh. Phật tuỳ duyên mà dậy. Với kẻ kiến giả nông cạn, Phật thuyết về tục đế. Với những kẻ uyên bác, Phật thuyết về đệ nhất nghĩa đế. Tục đế nhìn chân ở dưới, đầu ở trên. Đệ nhất nghĩa đế nếu xét về vũ trụ không có trên có dưới, trên dưới chỉ dường như có: “Người ghi bia đá để đời Còn tôi tìm chỗ tôi ngồi để quên Nhìn trời nước dưới mây trên Cúi xem lại thấy nước trên mây trời Ngồi quên, quên hết sự đời Hỏi thăm chẳng biết tên tôi là gì” Cho nên, thiền nhân dường như cũng chỉ thấy mình dường như là thiền nhân, “Họ tên, ngày, tháng, năm sinh Địa chỉ cũng đúng, còn mình ở đâu?” Dường như thiền nhân hiểu đến tận cùng tánh không của con người, Phật tính của mọi người đều giống nhau. Nên khi ngộ đạo dường như, thiền nhân sẽ nhập vào nhân loại: “Người ta mê mải tìm tên Tôi đi tìm chỗ lặng yên vô hình Người ta say rượu say tình Tôi say một cõi không mình không ta” Sống trong cảnh giới dường như, thiền nhân đã nhập vào cảnh giới thiền phi tưởng, phi phi tưởng. Thiền nhân vô ngã hoà nhập vào vũ trụ thành bất sinh, bất diệt. Còn kẻ vô minh say đắm trong rượu, thuốc phiện, tham, sân, si thì sự “dường như” của họ làm hỗn loạn tâm linh. Họ sẽ sống trái với quy luật của Tạo hoá, họ là kẻ vô đạo, kẻ tu sai lầm, bị tẩu hoả nhập ma. “Lạc trong đời đạo dắt ra Lạc trong đạo sẽ bị ma dắt vào” Còn sự ngộ đạo dường như của thiền nhân, nhiều khi tưởng là ngược, tưởng vô minh mà đắc đạo, vì họ hiểu rất rõ luật nhân quả. Như có một người đâm chết một kẻ qua đường. Ai cũng cho kẻ đó là ác. Song, biết đâu kẻ bị giết lại là tên ác tặc sẽ giết hàng nghìn người. Vậy, hại một người, cứu nghìn người thì gọi là nhân. Cho nên, thiền nhân thấy việc mọi người cho là ác thì họ chỉ thấy dường như ác mà thôi. Ngộ đạo dường như, thiền sư đã nhìn được cái ngoài nhìn, nghe được cái ngoài nghe, nghĩ cái ngoài nghĩ. Mắt họ thấy được thiên lý nhãn, tai họ nghe được thuận nhĩ phong, họ sống tự nhiên nên ung dung tự tại. “Tự nhiên chờ cái đến Thanh thản tiễn cái đi Yêu những điều không muốn Tâm nhàn hơn mây trôi” Thiền cho rằng, sự sống đầu tiên ngưng tụ ở phần rốn. Phần rốn là phần đứa trẻ sơ sinh nối sự sống với người mẹ. Sau đó, đứa trẻ ra đời, lìa rốn khỏi mẹ. Sự sống bắt đầu từ rốn, vùng đó theo nho, y, lý, số gọi là đan điền. Sự sống sẽ tiến từ đan điền lên đỉnh đầu, ngưng tụ lại ở huyệt bách hội. Khi chết là lúc linh hồn từ huyệt bách hội bay vào vũ trụ. Những nhà sư, khi thiền tới cảnh giới cao có thể chủ động được sự sống chết. Họ có thể vận khí đẩy linh hồn ra khỏi huyệt bách hội theo tâm ý. Trên đời này, người triết lý thì nhiều, người ngộ đạo thì ít. Triết lý nhiều thành duy ý chí, duy ý chí suy nghĩ quá nhiều sinh ra vọng tưởng. Vọng tưởng làm cho suy nghĩ chỉ ở phía ngoài vỏ não, không đi vào phần sâu bên trong của vỏ não. Đức Phật là người vượt ngoài vọng tưởng, tâm tưởng đi vào lõi của trí tuệ, lõi của não là vô ngã, nên Phật là người đạt được Chánh đẳng, chánh giác, đại hùng, đại lực, đại bi. Còn những kẻ vọng tưởng chỉ đạt đến tư duy ngoài vỏ não, nên họ bị rối trí. Họ đã đẩy sự sống quá mạnh lên bách hội, nên họ thường bị đoản thọ. Họ đã sống cưỡng duyên. Còn thiền nhân là giữ cuộc sống quân bình một cách tự nhiên, nên sự sống của người có tâm thiền sẽ an lạc và được hưởng phúc, lộc, thọ. Khi đã ngộ đạo dường như, thiền phó mặc cuộc đời theo chữ duyên, duyên không có tốt, xấu, thị phi, nên họ cũng không quan tâm đến tử vi, tướng số, kiêng kị. Họ làm gì, nghĩ gì không xem giờ, tính hướng. Họ không cưỡng duyên, nên họ không phiền não. “Qua cửa rồi không quay lại gõ Duyên hết rồi chớ có cầu mong” Cảnh giới sắc sắc không không là cảnh giới niết bàn. Đôi lúc, nhà nghệ thuật, nhà thơ cũng đã lướt qua cảnh giới đó. Cánh bướm của Trang Tử, cánh bướm tuổi thơ của Nguyễn Bính cũng đã có lúc chập chờn trong cõi sắc, không: “Những buổi học về không có nón Hai người chung một lá sen tơ Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc Bay về đến cửa mới tan mơ” Tình yêu thơ ngây, vô ngã đầy tính thi sỹ chỉ thoáng qua chứ không thể như thiền nhân trong cõi dường như: “Cho đến bây giờ anh mới hiểu Tình ta như cánh bướm xưa thôi” Sống hoàn toàn trong cảnh giới không, cảnh giới mộng, thi sỹ sẽ yêu là đến với đớn đau. Còn thiền nhân dường như thì quân bình giữa thực và ảo, giữa sắc và không. “Sống toàn thực sẽ phát điên Thực hoà với mộng thành tiên cõi trần” Thực hoà với mộng thấy vạn pháp đều dường như. Vì vậy, Phật Tổ Như Lai chỉ đánh giá mọi vật, mọi sự là dường như: dường như tốt, dường như xấu. Dường như là cảnh giới sắc sắc không không, cảnh giới niết bàn. Dường như của thiền nhân là dường như thấy được cái vạn biến trong bất biến, sự mơ màng trên nền tảng vững chắc của luật nhân quả và lẽ vô thường. Dường như của thiền nhân là dường như làm mờ cái lô gích rõ, làm rõ cái lô gích mờ, dường như của bát chánh đạo, chuyển pháp luân. Thiền nhân dường như đang ngồi toạ thiền, có cô gái chửa hoang đến bắt ông phải nhận đúng là con ông. Ông chỉ nói: “Dường như thế”. Khi cô gái chửa hoang lại được người chồng nhận là con mình, cô ta đến xin lại đứa con và thanh minh cho thiền sư không phải bố đứa trẻ. Thiền sư vẫn nói: “Dường như thế”. Chúng sinh trong mê thấy bùn là tanh tưởi, thiền nhân lại thấy dường như tanh tưởi, vì trong bùn tanh có hương sen thơm ngát: “Khi mê bùn chỉ là bùn Ngộ rồi mới biết trong bùn có sen” Khi mê, chúng sinh cho đồng tiền là bẩn thỉu: “Máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê”. Thiền nhân lại thấy tiền chỉ dường như tanh tưởi: “Khi mê tiền chỉ là tiền Ngộ rồi mới biết trong tiền có tâm” Kẻ tục nhân thấy dâm cho là dâm, thấy tiền cho là tanh tưởi. Còn thiền nhân dường như thì: “thấy tình trong dâm, thấy tâm trong tiền”. Vậy, thiền nhân dường như ngộ được dường như mình là thiền nhân. Ngắm các hoa hậu, thiền nhân cũng cảm thấy dường như đẹp, vì đẹp xấu là hai mặt của cùng một bản thể. “Vô tư như nắng giữa trời Cũng làm cho đổ mồ hôi bao người Hữu thân, hữu tội trên đời Đẹp xinh làm tủi nhiều người xấu hơn” Thiền nhân luôn thấy mình dường như có phúc lại dường như có tội, vì “cái tóc cái tội”, nên thiền nhân dường như ung dung tự tại như thái cực, chứa cả âm lẫn dương, đón nhận cả công lẫn tội: “Nếu ta bị bắt trên đời Thì cũng đúng tội, đúng người, đúng tên May ra đắc đạo thành tiên Trời Phật cũng gọi đúng tên, đúng người” Thiền nhân dường như sẽ không như kẻ nằm trong tự ngã, như ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung. Những dòng suối nhỏ hợp tan thành sông lớn, Hà Bá vỗ ngực tự cho là mình vĩ đại. Long Vương cười bảo hãy ra biển xem sao. Ra tới biển, Hà Bá mới chợt hiểu sự bé nhỏ li ti của mình. Long Vương ngạo nghễ tự cho là mình vĩ đại. Đức Phật khai ngộ cho Long Vương: nếu so với vũ trụ thì đại dương không bằng một hạt cát trên biển. Cho nên, chỉ có kẻ ngu xuẩn mới vỗ ngực cho mình là khôn: “Kẻ ngu vỗ ngực rằng khôn Người khôn lại biết mình còn quá ngu” Kẻ biết nhiều là người biết nhiều điều mình không biết. Trí tuệ của con người cũng như cú cân đẩu vân của Tề Thiên Đại Thánh đến mười vạn dặm vẫn nằm trong lòng bàn tay của Phật Tổ Như Lai – của Tạo hoá: “Nhân loại muốn vượt con người Khác gì nắm tóc tự lôi lên trời” Tuyệt đối trí tuệ con người không có tuyệt đối là tuyệt đối. Có một người tử tù thổi sáo rất hay, nhưng lính canh chỉ gọi đó là tên tử tù. Trang Tử bảo: “Đó là người thổi sáo hay”. Khi người tù thổi sáo hay, lính canh khen là người thổi sáo hay, Trang Tử lại bảo: “Đó là tên tử tù”. Vậy tất cả chỉ là dường như: “Người nào cũng tốt nhất đời Khi ta tìm được đúng nơi để ngồi Ai ai cũng đẹp tuyệt vời Khi tìm được đúng chỗ ngồi ngắm nhau” Thiền nhân dường như khai thị cũng chỉ dường như là thiền nhân. Họ quên cả cái tôi của mình. Quên cái tôi của kẻ tự ngã là điên, còn quên cái tôi của thiền nhân dường như là quên cái tôi trong đạo quán, thiền ngộ được tánh không của đạo pháp. Một lần, nhà thơ nổi tiếng Tô Đông Pha đời Đường hỏi bạn: - Khi tôi ngồi thiền thì giống cái gì? Bạn bảo: - Trông giống Phật. Sau đó, ông bạn hỏi đùa: - Thế tôi đang ngồi đun cám giống cái gì? Tô Đông Pha bảo: - Giống đống phân lợn. Sau đó, Tô Đông Pha khoe chuyện này với thiền sư Phật Ấn. Phật Ấn khai thị: - Vì tâm Tô Đông Pha ô chượp, nên nhìn người thành đống phân lợn. Còn tâm bạn ông là tâm Phật, nên nhìn ai cũng giống Phật. Khi TrangTử chết, có di ngôn cho đệ tử mang xác mình đặt trên đỉnh núi. Học trò khóc lóc thảm thiết vì thương thầy, thương thân xác thầy bị quạ tha, diều mổ. Học trò muốn chôn thầy dưới đất để được ấm cúng, mồ yên mả đẹp. Trang Tử bảo: “Đó chỉ dường như đúng thôi. Vì thân trên núi bị quạ tha, diều mổ, còn chôn dưới đất bị mối đục, giun đùn thì cái gì hơn cái gì?”. Dường như của thiền nhân hoà tan vào Tạo hoá nên bất sinh, bất diệt. Thiền nhân dường như tâm an, thân lạc vì ngộ được luật nhân quả của sự sống liên lỉ, liên hồi. Thiền nhân thấy sống chỉ là dường như sống, chết chỉ dường như chết. Thiền nhân thành bất tử, vì thấy được quả của kiếp này là nhân của kiếp trước. “Vô hình hoá cái hữu hình Kiếp này là mộng khi mình chưa sinh Hữu hình hoá cái vô hình Kiếp này là mộng của mình kiếp sau” Thiền nhân dường như hiểu mình đang biến hoá trong luật nhân quả, nên là người tin ở sự công bằng của luật nhân quả, bao trùm lên cả luật pháp, luật giang hồ. Tin vào luật nhân quả là người đạo cao, tâm hướng tới tự do, bình đẳng, bác ái: ở hiền gặp lành, ác giả ác báo. Những kẻ không tin vào luật nhân quả mê đắm trong bất công, tàn ác. Thiền nhân dường như là dường như thiền nhân. Nhiều khi họ quên cả họ là ai. Sự quên đầy trí huệ bát nhã của đạo quán thiền tông. Họ sống trong trực ngộ như câu kinh viết trong Đại Hùng Bửu Điện của thiền viện trên Tây Thiên ở Tam Đảo: “Thiền tông không lối trực ngộ đến chân như”. Ngộ được vạn pháp dường như, ta phá chấp bảo thủ để hoà nhập vào toàn cầu hoá, vào APEC, vào WTO. Từ tư duy lô gích cứng ta có hụê bát nhã tư duy lô gích mờ, từ thuyết cơ học Niutơn chuyển sang thuyết cơ học lượng tử, ta hiểu được chữ thời của kinh dịch, vô ngã, vô thường của đạo Phật. Ta sẽ không bị chấp trước như câu chuyện viết về một ngôi chùa tam giáo đồng nguyên thờ ba bức tượng: Khổng Tử, Lão Tử và Đức Phật. Đệ tử của đạo Khổng bê pho tượng Khổng Tử đặt lên trên. Đệ tử của đạo Lão bê pho tượng Lão Tử đặt lên trên. Đệ tử đạo Phật cũng vậy. Bê đi, bê lại cả ba bức tượng đều vỡ nát. Ba bức tượng nói với nhau, đạo nào cũng đều là đạo cả, đều là cánh cửa mở để đi vào Tạo hoá. Ngôi nhà Tạo hoá có muôn vạn cửa, chỉ cần đi vào một cửa là đủ. Cũng như tận cùng của các đám mây đều là trời xanh, là đạo cả. Ba pho tượng bê đi, bê lại thành vỡ nát cả. Mọi con đường đều dẫn tới Rôm, tới Tây Trúc. Chúng ta không nên bàn về đường đi mà chỉ bàn về cách đi. Thiền nhân dường như gia nhập WTO chỉ chứng kiến chứ không có ý kiến. Thiền nhân dường như hoà nhập và chấp nhận mọi chiều của chân lý. “Chối bỏ cách sống một người Là mình chối bỏ cái trời sinh ra Chối bỏ cách nghĩ người ta Là mình tự cắt thịt da của mình” Chứng kiến mọi người và chứng kiến chính mình, “dường như” chỉ hoà nhập chứ không hoà tan và bao giờ cũng toàn cầu hoá nhưng đậm đà bản sắc dân tộc, vì mê theo cách mê của mình là ngộ, ngộ theo cách ngộ của người là mê
  25. TÌNH BÁT PHỐ Kẻ đang mê gái không thể có tâm hồn thư thái đi bát phố được. Nhưng đi bát phố lại rất cần được ngắm những tà áo lụa phất phơ, cặp môi hồng quyến rũ, đôi mắt huyền lúng liếng, nụ cười khúc khích của cô nữ sinh. Đi bát phố để yêu nhưng không yêu cụ thể một cô gái nào. Bát Phố cảm thụ một nụ cười ở góc phố này, một cái liếc mắt đưa tình trên ban công nọ, một đường cong của cô gái đạp xe trước mặt, tà áo mầu bay theo gió... thứ tình yêu man mác như thực như ảo, không có sự chiếm hữu: tất cả mọi vẻ đẹp của cô gái là của Bát Phố, và Bát Phố cũng là vẻ đẹp của mọi cô gái. Tình Bát Phố vì vậy không bao giờ đau khổ, lòng Bát Phố lúc nào cũng lâng lâng: Yêu sao giây phút hình như Cho nhau những cái còn chưa của mình Buồn sao hình chạm vào hình Đôi bong bóng đụng hồn mình chợt tan Người trong tâm trạng cuồng si tình ái không thế Bát Phố được. Hãy ngắm chàng si, lòng như lửa đốt đi đi lại lại trên hè phố Tràng Tiền chờ người yêu, thỉnh thoảng lại đâm sầm vào người đi trước mặt, rút báo ra xem để giết thời gian, chưa đọc hết một giòng, đã vội đút ngay vào túi. Mắt kẻ si tình hốt hoảng nhìn trước, ngó sau vì người tình đến trễ mươi phút. Vài phút chờ gái dài bằng hàng tháng, rõ ràng hẹn nhau ở Bách hóa tổng hợp Tràng Tiền mà lại nghĩ nhỡ nhầm với Đại học Tổng hợp chăng? Thơ tình định gửi cho em Dán vào lại bóc ra xem mấy lần Hẹn nhau dưới bụi tầm xuân Mà sao lòng vẫn phân vân e nhầm Cả hai chỗ đều chữ “tổng hợp”. Thế là chàng mê gái vội chạy đến Đại học Tổng hợp, chạy đi chạy lại vã mồ hôi suýt đâm đầu vào ô tô. Chàng si quyết sẽ mắng cho người yêu một trận. hàng tiếng sau cô người yêu mới lững thững tới, chàng si mừng quá quên cả giận. Vì vậy tâm thế của kẻ cuồng si không thể gọi là đi bát phố được Kẻ bát phố lúc nào cũng như chờ đợi người tính nửa thực nửa ảo, lúc nào cũng như chưa gặp và gặp rồi Bát Phố nhập hồn vào tà áo lụa bay trên đường Cổ Ngư, một dải khăn hồng sóng sánh trên mặt nước hồ gươm hòa cùng màu đỏ son của cầu Thê Húc, trên nền xanh của trời cùng mầu xanh của đất. Bát Phố hưởng thụ cách đưa tình của cô gái chít khăn mỏ quạ cùng những tà áo trắng tinh khiết của nữ sinh bay trên đường như cánh bớm. Phải chăng tình yêu Bát Phố như ánh đẹp lung linh của đom đóm lập lòe trên nền tối sẫm của bụi tre làng, vẻ đẹp huyền bí mê ly. Nhưng nếu ta bắt đom đóm để vào lòng bàn tay thì chỉ là con bọ hôi. Hoặc nếu ta ngắm đom đóm ban ngày cũng rất vô duyên: Nhởn nhơ bướm lượn bờ ao Đừng ai bắt bướm ép vào sổ tay Trong đêm đóm lập lòe bay Đừng đem đom đóm ra ngày để xem Đôi lúc tình Bát Phố lại rung lên theo tiếng đàn qua ô cửa sổ, Bát Phố ngước lên ngắm cô gái đánh đàn qua khung cửa như một bức tranh lụa. Các cô gái thướt tha trên đường phố như trong vũ khúc nghê thường. Sự hy vọng sự thưởng thức của tình bát phổ như mộng huyễn, sự chờ đợi mà không cần gặp người yêu là cái đẹp vĩnh hằng của mọi tình ái. “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé Để lòng buồn ta dạo gót quanh sân Ngắm trong tay thuốc lá cháy lui dần Ta sẽ nói gớm sao mà nhớ thế Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé Nếu chót đi thì hãy gắng quay về Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở Đời mất vui khi đã vẹn câu thề” Tình bát phổ không phải là thứ tình si trần thế như anh chàng chờ người yêu ở Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền, mà tình của cảnh giới sắc sắc, không không, cảnh giới vĩnh hằng. “Tìm đường để đến nhà em Đến nơi mới biết nhà em là đường Thuyền tình cập bến yêu đương Biết đâu bến cũng là đường mà thôi” TÌNH MƯA BÁT PHỐ Khi đã mắc bệnh nghiện Bát Phố cứ đúng giờ là phải ra đi. Ngay cả những ngày mưa tầm tã Bát Phố trang bị đủ áo mưa, giầy ủng... như ra trận. Bát Phố vào mùa nào, lúc nào cũng có vẻ đẹp riêng. Ngày xưa ít ô nhiễm. Sau cơn mưa to, nước lụt phố, trẻ con ra tắm như ở bể bơi. Đặc biệt sau khi tắm về chẳng ai bị ngứa ngáy gì cả. Ngắm cảnh tắm mưa trong phố lụt cũng hay. Dạo đầu thấy Bát Phố mưa to gió lớn vẫn đúng giờ ra đi, vợ nghi là có bồ, bí mật theo dõi nhiều lần, thấy Bát Phố đi lòng vòng rồi vào trú dưới mái hiên ngắm mưa rơi đường phố. Bát Phố xòe bàn tay ra hứng mưa thích thú như trẻ con nghịch nước hoặc nói chuyện thời tiết với khách trú mưa một cách vu vơ. Có những cuộc tình mưa rất Bát Phố. Hôm đó trời cũng đổ cơn mưa to, Bát Phố tạt vào mái hiên trú, mái hiên ngắn nên mưa quất cả vào người. Dưới mái tây hiên có cô gái cũng cùng cảnh ngộ, mưa to và dai, Bát Phố bắt chuyện làm quen với cô gái, cô gái lấy vải mưa che hắt cho cả hai. Ôi sao giây phút ấy mê ly thế, Bát Phố xưa nay rất trầm tĩnh nói năng rõ ràng mà lúc ấy giọng lại hổn hể khi mái tóc và người cô gái ép sát vào Bát Phố. Hòa với tiếng mưa rơi, vọng ra từ cửa sổ bài hát thiên thai: Thiên thai, chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm ... Bát Phố ngây ngất ngắm đôi gò bồng đào của cô gái trú mưa mà ngỡ mình đang lạc vào bồng lai tiên cảnh. Mưa suốt 3 tiếng mà Bát Phố cứ tưởng là một thoáng. Mưa tạnh, Bát Phố đành lưu luyến chia tay cùng mối tình mưa mà không hết biết tên cô gái, cũng không một lời hẹn gặp lại. Mấy hôm sau, qua mái hiên mưa cũ, Bát Phố thấy buồn man mác, lưu luyến như đánh mất một cái gì không tên: “Vô cớ mua giây buộc mình Thì đành nhờ cái vô tình gỡ ra Tự nhiên buồn đến với ta Tự nhiên buồn sẽ đi ra khỏi mình” BÁT PHỐ GIÀ Lúc Bát Phố còn trẻ, Bát Phố thấy mấy ông già tuổi thất thập trông rất đáng kính lại toàn bàn chuyện đi chơi gái. Bát Phố trẻ nghe thấy là dị ứng, đứng bỏ dậy đi luôn. Bố của Bát Phố cũng vậy, khi trẻ cụ làm rất nhiều thơ thanh tao, đến già lại toàn làm thơ tục kiểu Hồ Xuân Hương. Mẹ của Bát Phố vẫn thường day dứt chồng: - Ông già rồi, toàn làm thơ tục để con cháu nó khinh cho. Bát Phố dị ứng nhất là khi mấy ông bát phố già khoe một đêm dư sức ngủ với bốn, năm cô gái là thường. Đặc biệt Bát Phố ghét nhất cảnh mấy ông già tuổi 80 mang ảnh bồ ra khen, hoặc cấu véo cô hàng nước rồi mắt hấp háy cười như con dê kêu be be. Khi Bát Phố về già mới ngộ được tình già. Người già hay nói chuyện về chơi gái không phải là dâm tặc. Các cụ khoe nhau là ngủ với 5 cô gái một đêm là nói phét. Cụ chỉ hướng đến dục để chứng tỏ mình còn yêu cuộc sống, còn khỏe lắm, vì các cụ biết: “Khỏi bệnh nhồi máu cơ chim Coi như nhồi máu cơ tim suốt đời” Khi thấy các cụ khoe đi chơi gái, ta không nên coi thường các cụ mà nên thương cảm. Vì biết rằng các cụ già rồi biết mình sắp sang thế giới bên kia: “Cuối cùng tất cả chúng ta Đều lên nóc tủ ngắm gà khỏa thân” Cụ khoe chơi gái để muốn níu kéo lấy cuộc sống đang trôi tuột khỏi tay các cụ, thế thôi ! Còn lớp trẻ thì chơi gái cật lực có mấy khi khoe đã ngủ với mấy cô một đêm, vì điều ấy là đương nhiên. Người bị tù thích bàn về tự do. Người thiếu đạo đức thích bàn về đạo đức. .. người già hết nhựa sống thì suốt ngày bàn về chơi gái. Thật đáng thương! “Đông vui già chớ chen vào Gái tơ huých nhẹ chỗ nào cũng đau Ngắm hoa lại nhớ tới câu Hoa kia chẳng nở cho người già nua” Nhiều cụ già dùng Viagra để chim thò được ra khỏi quần, khi đái không ướt sũng giày, chứ không phải để cường dương, giao hợp. “Uống hẳn hai viên gờ ra (viagra) Đi đái mới vọt được ra khỏi quần” Đặc biệt ngày quốc khánh Pháp 14 – 7, (người Hà Nội gọi đùa là ngày “cắt tóc phi dê” phiên âm chế tiếng Pháp). Ngày đó có cuộc đua xe đạp quanh hồ Gươm. Cụ cua rơ tên là Bát, râu tóc bạc phơ, lần nào cụ cũng về thứ bét, mà không bao giờ bỏ cuộc. Dần dần mọi người chỉ chú ý đến cụ Bát mà không ai để ý đến nhà vô địch cả. Cụ Cua rơ Bát Phố già trở thành người nổi tiếng nhất Hà Nội. BÁT PHỐ THỜI MỞ CỬA – BÁT PHỐ GIẢ – BÁT PHỐ THẬT – Bát Phố giả Không gian bát phố không còn nữa, Hà Nội sôi sục như một nồi lẩu, giao thông tắc nghẽn, vỉa hè bị chiếm dụng. Môi trường ô nhiễm nặng. Xã hội chạy theo xa hoa, dục lạc: Hôm xưa lên tỉnh về làng Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi Bây giờ quần trễ rốn lồi Khổ tôi khổ cả bố tôi đang thiền Không gian bát phố không còn, cũng như không gian văn hóa cồng chiêng không còn thì làm gì có bát phố, có văn hóa cồng chiêng. Giữa Hà Nội làm gì có cảnh thổi khèn nhảy lò cò tán gái nếu thiếu không gian núi rừng hùng vĩ, thâm u. Bát Phố chỉ còn xót lại một ít cũng đã cổ lai hi, chất bát phố bị pha loãng bởi những người ngoại tỉnh tràn vào và trải qua bao thăng trầm động loạn. Vậy không gian bát phố đã không còn, con người bát phố đã đổi thay nên thời mở cửa chỉ còn lại những bát phố già nửa thật nửa già, còn lớp trẻ thì danh từ “bát phố” họ không biết và trong từ điển Tiếng Việt cũng không có. Sống như tây, nghĩ như ta Cội nguồn đau khổ chính là từ đây Đi đái thì đứng giữa đường Hôn nhau lại nấp sau tường để che Đậm đà bản sắc chân quê Thanh lâu xóa sạch, ca ve đầy đường Bát Phố thật Không gian bát phố thật chỉ có ở những ngày Tết, khi người ngoại tỉnh về quê trả lại đường phố cho Hà Nội. Mùng 1 Tết, người Hà Nội ngắm phố thấy đẹp một cách kì lạ, cái đẹp tuyệt vời của phố cổ trước 1954. Những Bát Phố già ngắm Hà Nội như chìm vào một giấc mơ. Người bát phố thật ta chỉ thấy ở những người Hà Nội sang lập nghiệp ở nước ngoài trước năm 1954. Có lần bát phố giả gặp cụ Việt kiều sang Pháp từ trước năm 1954. Bát phố giả nói chuyện với cụ Việt kiều bát phố thật này mới được thưởng thức những hương vị của bát phố xưa, lòng thấy bâng khuâng: Năm nay đào lại nở Không thấy ông đồ xưa Giấy đỏ buồn không thắm Mực đậm trong nghiên sầu Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ? NGƯỜI HÀ NỘI – BÁT PHỐ Câu hỏi thế nào là người Hà Nội thường được tranh cãi rất nhiều. Thời xưa có câu: “Chẳng thơm cũng thể hoa nhài Dẫu rằng chẳng lịch cũng người Tràng An” Điều này thì ai cũng rõ. Tôi có một cậu bạn quê Đình Công, học đại học Bách Khoa, sau đó vào Bến Tre, làm giám đốc Sở Giao thông. Sau 30 năm công tác, cậu ta đã trở thành dáng đứng Bến Tre, lúc nào cũng mơ màng, liêu xiêu trong cơn say. Gia đình ở Hà Nội gọi về chia gia tài và muốn anh trở về hoàn lương đất kinh kỳ. Anh kéo mấy ông bạn Bến Tre ra Hà Nội mấy ngày mà cả nhà đều không ai chịu được anh ta, và anh ta cũng không chịu được gia đình. Cuối cùng anh ta nói: - Con sống ở Bến Tre lâu rồi, cuộc sống tự nhiên và tự do như gió, không thể chịu được kiểu giả của người Hà Nội. “Sống mà phải xã giao nhiều Mệt hơn phò phạch phải chiều lắm anh” Trong thời gian tôi đi bộ đội, lại may mắn làm pháo thủ bảo vệ Thủ đô. Tôi có thú vị cảm nhận được người Hà Nội trong mắt người lính. Thường thì trong năm năm đầu, các đồng chí đều rất có thành kiến với người Hà Nội. Họ đều nhìn tôi bằng con mắt thiếu thiện cảm. Có một đêm, trời mưa to, đồng chí chính uỷ người Nam Định hốt hoảng đánh thức tôi dậy bảo: - Đồng chí Sinh dậy cất xe đạp, trời mưa to. Tôi đang ngủ say đáp theo bản năng: - Báo cáo đồng chí, kệ xe, ngủ là chính. Đồng chí chính uỷ ngạc nhiên, nhìn tôi như người hành tinh khác đến. Vì thời đó cái xe đạp là cả một gia tài, suốt ngày các cán bộ cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần đều mang xe ra ngắm nghía, lau chùi bàn tán suốt ngày đêm không chán. Nay tôi lại dám bỏ mặc cái xe Phavorit giữa đêm mưa thì ngang với tội đảo ngũ chứ chẳng chơi. Ngồi nhong nhong trên cái xe Phavorit ngang với ngồi trên ngai vàng, trên kiệu nghênh ngang trên đường. Thời đó, tôi là người Hà Nội, đóng giữa Hà Nội thì thành tích lớn nhất của tôi là đi mua hộ các đồng chí phụ tùng xe đạp theo sổ cung cấp. Thời đó xe đạp như sinh mệnh con người. Người tỉnh nào chỉ được quyền sở hữu mua bán xe trên tỉnh ấy. Chỉ có bộ đội như tôi là được độc quyền mang xe đạp đi bán trên địa bàn các tỉnh. Thời đó, tôi thường mang xe đạp xuống Hải Phòng bán ở chợ giời, chợ giời xe đạp Hải Phòng họp ở sân vận động Lạch Tray. Chợ giời xe đạp Hà Nội bán ở cuối phố Huế, trong phố Thịnh Yên. Kể nghĩ lại cái thời năm 1960, cũng lạ, sáng sớm đạp xe hơn 100km, bán xong xe hoặc không bán được cũng lại lóc cóc đạp xe về Hà Nội. Có sống giai đoạn ấy khi lên thăm nhà văn Nguyên Hồng ở Nhã Nam, Bắc Giang mới hiểu tại sao cụ vẫn thường đạp cái xe đạp trẻ con Liên Xô mà thời đó gọi là Pô-zô con vịt để về Hà Nội họp cách hơn 60km. Cái xe đạp quý hoá kinh khủng là vậy, mà thời đó tôi dám trả lời chính uỷ con người quý hơn xe đạp quả là tội nặng. Cho nên trong buổi họp chi đoàn, tôi đã phải làm kiểm điểm về tính tiểu tư sản này. Nhưng nếu anh lính Hà Nội mà sống lâu trong bộ đội khoảng sau năm năm thì lúc đó tình cảm của các đồng chí lại rất đằm thắm, vừa rất thân thương mà lại kính nể, thật đúng là: “Có bao nhiêu kẻ yêu ta Kẻ ghét đếm đủ cũng là bấy nhiêu Khi biết ghét cũng là yêu Ân oán sẽ hết mọi điều sáng trong” Đúng vậy, cứ sau một ngày đi công tác quanh trận địa Hà Nội về, thường anh em cán bộ kể lại mặt xấu của người Hà Nội. Nào là đi đâu cũng gặp toàn gái điếm, nào là kẻ cắp hoạt động như rươi. Có đồng chí sau nhiều lần bị mất cắp trên tầu điện, đã cho tờ báo vào cái ví để ở túi, quyết bắt được kẻ gian. Thế nào mà khi về đến đơn vị cũng mất luôn cả cái ví bẫy kẻ cắp. Nào là bộ đội Hà Nội hay đào ngũ. Có lần vì tức quá tôi đã nói: “Các tỉnh vì sống khổ nên thích đi bộ đội”. Riêng câu nói này mà tôi đã phải chịu khổ nhiều năm. Sau này tôi mới hiểu là các đồng chí yêu quá hoá ghét mà thôi. Này nhé, tôi thống kê các chú bộ đội các tỉnh về đóng ở Hà Nội đều tìm cách lấy bằng được một cô vợ Hà Nội. Cũng may nhờ có bộ đội mà một số cô gái quá lứa, lỡ thì kiếm được một tấm chồng. Họ ghét là giả mà yêu Hà Nội là thật. Cán bộ quân đội các tỉnh đóng quân ở Hà Nội, khi chuyển ngành, họ đều sống chết với Thủ đô, họ rời cả gia đình lên Hà Nội lập nghiệp. Khi đi các tỉnh đeo mác người Hà Nội thường được các cô gái tỉnh lẻ mơ ước, nên rất dễ kiếm người yêu. Trong con mắt người Hải Phòng, họ nghĩ về Hà Nội ra sao? Hải Phòng là thành phố lớn thứ hai ở miền Bắc, sau Hà Nội, nên Hải Phòng và Hà Nội thường là đối trọng của nhau. Nếu cùng đi trên đường phố, trên tầu xe thì ta không thể phân biệt được giữa người Hải Phòng và người Hà Nội, nhưng đứng về mặt tâm linh thì chỉ cần một vài chi tiết đã thể hiện rõ tính chất khác hẳn nhau. Ta suy ngẫm một vài chi tiết về thể thao sẽ biết về sự cách biệt giữa Hải Phòng và Hà Nội. Trong mọi cuộc thi đấu gà chọi giữa Hà Nội và Hải Phòng, ta thấy ngay tính chất ngang tàng của người dân sống giữa trời cao, biển rộng. Còn trong lĩnh vực bóng đá thì sự cuồng nhiệt, tính địa phương của Hải Phòng thể hiện rất rõ nét. Thi đấu quyền anh lại càng lợi thế. Thí dụ điển hình của người Hải Phòng, Hà Nội thể hiện rõ trong cuộc đấu. Ai đã chứng kiến trận thi đấu quyền anh giành vô địch năm 1993 hẳn rất tự hào vì được cảm nhận một cuộc thi đấu hi hữu. Trận đấu diễn ra ở sân vận động Lạch Tray, huấn luyện viên chủ chốt của Hải Phòng là võ sỹ Đinh Môn, dòng dõi võ sỹ Đinh Bảng nổi tiếng về tài năng và tính cách Hải Phòng của mình. Thập niên 50, khi võ sỹ Phạm Xuân Nhàn ở Hà Nội chiếm vô địch liên tỉnh, thời đó chưa có vô địch toàn quốc vì đất nước ta chưa thống nhất, thì Đinh Bảng chưa thi đấu. Sau đó võ sỹ Đinh Bảng vô địch liên tỉnh thì Phạm Xuân Nhàn không dự. Đinh Bảng đã gửi lời thách đấu lên Phạm Xuân Nhàn, Phạm Xuân Nhàn định nhận lời, song bố đẻ võ sỹ Nhàn là Phạm Xuân Thông khuyên Nhàn không nhận lời thách đấu và treo miễn chiến bài. Lập tức đoàn võ sỹ Hải Phòng đã đem tặng Phạm Xuân Nhàn một bộ soutien và hộp son phấn, chửi Nhàn là nhát như đàn bà. Tính thượng võ của Hải Phòng mạnh hơn Hà Nội nhiều. Trong thể thao cũng như trong võ thuật, võ sỹ Hà Nội khéo léo, kỹ thuật cao song sức khoẻ thường kém các tỉnh khác. Đấy là đặc tính người Hà Nội. Cầu thủ bóng đá Nguyễn Hồng Sơn chỉ đủ sức đá một hiệp. Đoàn võ sỹ Hà Nội do huấn luyện viên Cảnh Dương và chủ tịch đoàn Hoàng Kiềm dẫn đầu. Cuộc tranh tài vào chung kết giữa Hải Phòng và Hà Nội diễn ra bao giờ cũng gay cấn. Sân vận động Lạch Tray chật ních khán giả, đông hơn mọi trận đấu ở Hà Nội. Trên khán đài danh dự đủ cả các vị lãnh đạo cao cấp của tỉnh. Khác với Hà Nội, mọi cuộc đấu võ ở Hải Phòng thì cổ động viên nữ đông hơn và hăng hơn nam nhiều. Cho nên sau này ta thấy nữ sát thủ của Năm Cam là Dung Hà cũng tuyển ở Hải Phòng. Đã nhiều kinh nghiệm, nên đoàn võ sĩ Hà Nội được quản lý chặt vì nếu lơ là mất cảnh giác bị trúng mỹ nhân kế của địch thì có mà ăn cháo bốc. Ngay cả đến võ sỹ huyền thoại Mô-ha-met Ali cũng vì đêm trước rơi vào mỹ nhân kế mà trận đấu với Pho-mơn thua một cách rất đơn giản. Trước đêm đấu coi chừng mấy em mắt xanh mỏ đỏ lượn lờ gần phòng ngủ võ sỹ là phải xua đi thật xa. Trận đấu diễn ra tại sân vận động Lạch Tray thật kinh hoàng. Cái đinh của trận đấu để quyết định Hà Nội hày Hải Phòng thắng là ở trận đấu loại 70 kg của hai võ sỹ cùng tên là Tuấn: Tuấn ngan và Tuấn cụ. Hai kẻ địch truyền kiếp của nhau. Nhưng trận đó Tuấn Hải Phòng lại đang bị tù, nghĩa là bị tước quyền công dân. Mo tăng phú tất, Hải Phòng thả Tuấn ra thi đấu, mà Tuấn phải thi đấu sát thát mới mong được thoát án, thoát tội. Trận đấu diễn ra thật phi lý, ngoài thể thao. Khán giả Hải Phòng cổ vũ như điên trên sân nhà. Trận đấu nghiêng phần thắng về Hà Nội, lập tức chai lọ, bàn ghế bị tung lên võ đài. Bốn trọng tài biên quá sợ hãi chui tụt vào gầm võ đài. Còn trọng tài chính luống cuống không biết trốn đi đâu. May mà lúc đó trưởng đoàn Hoàng Kiềm vội nhẩy lên võ đài tung khăn trắng xin thua vô điều kiện mới thoát nạn. Nghe đâu hôm đó đoàn võ sỹ mà không nhờ được cảnh sát cơ động hộ tống lên xe bọc thép cũng sơi đủ bữa gạch củ đậu đến no đòn. Người Hà Nội là tập hợp của tứ phương, nên khi xem thi đấu thể thao thường công tâm hơn. Cho nên những ai chưa qua được lò Hà Nội đào tạo, cũng chỉ là vĩ nhân tỉnh lẻ. Còn người Hà Nội tuy hiểu biết rộng, song tính phấn đấu thấp nên cũng hạn chế thành công. Tinh thần thể thao của Hà Nội có nét rất thú vị. Thời Pháp thuộc, hàng năm Hà Nội thường tổ chức thi xe đạp quanh Hồ Gươm. Có một Cua-rơ rất già tên là Bát, mọi người gọi là Cua-rơ Bát già. Cua-rơ Bát già bao giờ cũng bét. Bét mà Cua-rơ này không bao giờ bỏ cuộc. Vì tinh thần thể thao cao thượng này mà người Hà Nội tôn vinh. Họ chỉ ca tụng một Cua-rơ Bát mà quên đi tất cả mọi vận động viên vô địch. Tinh thần thể thao vô tư của người Hà Nội khác hẳn tính hiếu thắng địa phương của một số tỉnh lẻ. Còn người Sài Gòn nghĩ về người Hà Nội ra sao? Có vào đến Sài Gòn, mình mới hiểu rõ mình là người Hà Nội ưu tú, có học hành và hiểu biết. Người Sài Gòn nhìn người Hà Nội có cái nhìn cách biệt của thể chế chính trị. Họ mặc cảm. Kẻ sỹ Bắc Hà làm báo tồi, viết văn hay. Hề Sài Gòn chỉ là hề mặt mũi, giọng điệu; hề Hà Nội sâu sắc hơn. Hề giả thì đi diễn hề Hề thật thì lại trở về làm quan Có lần tôi trao đổi chuyện này với các bạn miền Nam, có lẽ để xã giao các bạn bảo Bắc – Nam là một đâu có phân biệt. Tôi đùa để chứng minh: “Mấy lần đi hát Karaoke, tôi đều bị bà chủ phân cho một em vừa xấu vừa không biết chiều khách”. Các bạn đành cười. Về mặt nào đó thì người Hà Nội do cuộc sống kinh thành chật chội, ồn ỹ cho nên đặc tính của Hà Nội là mơ ước về nơi sơn thuỷ hữu tình, hương đồng cỏ nội. Thiếu gì sẽ mơ ước cái ấy. Người nông thôn lại mơ ước được hưởng ánh sáng kinh thành. Thực ra thì Hà Nội chỉ tuyệt đẹp trong lý trí người nông thôn. Với các cô gái thì Hà Nội chỉ là màn ảnh để họ phóng chiếu ước mơ lên thôi, khi ra đến Hà Nội thì mộng sẽ tan ra như khói. Cũng như người Hà Nội lấy nền trời mây nước, cảnh sơn thuỷ hữu tình để phóng chiếu ước mơ lên mà thôi. Cho nên biết bao nhiêu người đã rời bỏ Hà Nội lập trại ấp trên đồi hoang núi vắng, giấc mơ này đã tan ngay khi va chạm với thực tế phũ phàng. Người Hà Nội sợ cảnh chật chội, ồn ỹ. Song họ biết đâu sự im lặng hoang vu nơi rừng hoang núi vắng còn đáng sợ hơn nhiều. Cũng như người ngoại tỉnh cứ nghĩ là Hà Nội đầy phồn hoa, biết đâu trong đó bao cạm bẫy: Thịt rừng cùng gái chân quê Ở đâu rồi cũng kéo về Thủ đô Còn dân chính hiệu Bờ Hồ Khát khao lên tận Đồng Mô đi cày Lên tỉnh ai cũng bảo quê Về làng cả xóm lại chê thị thành Xót xa thân phận, thôi đành Nửa quê nửa tỉnh chòng chành thân em Ai đưa em đến Hà Thành Để nay em đã hóa thành ca ve Cách nghĩ của người Hà Nội từng vùng miền cũng khác biệt. Người ở phố cổ Hàng Ngang, Hàng Đào… có thể ở cùng chung một số nhà nhưng không thường vào nhà nhau chơi, khi gặp nhau thường không ai chào ai cả. Người ở khu chợ Hôm, nếu ở cùng số nhà khi ra vào vẫn thường chào hỏi nhau, hoặc mời bữa cơm thân mật. Người ở dưới khu chợ Mơ có thể sang nhà nhau chơi hoặc mời ăn uống tùy tâm. Còn người ở làng xóm quận Hoàng Mai thì cửa mở suốt ngày, sang nhà nhau chơi tùy thích. BÁT PHỐ TRUNG HOA TRONG LÒNG HÀ NỘI Qua cổng Ô Quan Chưởng đến phố Hàng Chiếu, Hàng Buồm là khu trung tâm của người Tầu. Gần phố Hàng Buồm có hội quán của người Hoa. Hội quán này sau bị báo Người Hà Nội giữ làm trụ sở. Người Hoa có nét khác hẳn người Việt ở chỗ: khi đến nước nào thì họ xây dựng coi như quê hương của mình. Ở Hà Nội, người Hoa có khu chùa riêng. Nghĩa địa của người Tầu Quảng Đông đặt ở Quảng Bá, nay đã biến thành biệt thự, nhà hàng ốc, massage cả rồi. Nhiều lần tôi tìm lên nghĩa địa xưa mà nay không biết vết tích ở đâu. Nghĩa địa của người Hoa Sừu Châu đặt phía dưới chùa Sét, quận Hoàng Mai, Hà Nội. Ngày xưa đến tiết thanh minh là người Sừu Châu tổ chức long trọng đi tảo mộ. Qua chùa Sét khoảng độ 100m, phía tay trái là khu nghĩa trang Tầu. Người Sừu Châu thuê nhiều ô tô đón khách cuối phố Hàng Buồm. Đại bản doanh hành lễ ở ngôi mộ to nhất, có lẽ là mộ tổ. Sau mọi nghi thức lễ bái long trọng, người Tầu phong bì cho một số bà con nông dân chung quanh có công trông nom, săn sóc mộ chí. Sau đó, ô tô đưa khách về Hàng Buồm. Thời đó, được ngồi ô tô đưa đón vinh dự như được làm tổng thống. Xuống xe, mỗi người được phát hai phiếu, mỗi phiếu có thể mua được một cân thịt gà hoặc thịt quay của bất cứ một cửa hàng thịt quay của người Tầu nào ở Hà Nội. Sau cải cách ruộng đất, chuyện tảo mộ coi như mê tín dị đoan, các thầy bói, thầy cúng, bà đồng bị nhốt vào đình phố Hàng Bạc để tẩy não cùng với các cô gái điếm. Cán bộ quản giáo cứ xểnh ra, là gái điếm và thầy bói mù lại làm tình với nhau, để rồi lại bị nhốt riêng vào khu kín, hoặc ngồi viết bản kiểm điểm, cả trại lên án đấy là do tội ác của đế quốc phong kiến để lại. Vì vậy, không ai còn dám đứng ra tổ chức ngày hội thanh minh nữa. Khu nghĩa trang Sừu Châu dưới chùa Sét bị bà con nông dân đóng cọc làm chuồng lợn, nhà tiêu. Cuối cùng, trường cấp III Trương Định tiếp quản khu nghĩa trang, bạt một số mộ đi để làm trường học. Cái am chùa Sét gần nghĩa trang, người đến lễ bái quá đông. Chính quyền sợ tệ nạn mê tín dị đoan, đã dùng nửa phần tiền đường làm đồn công an. Muốn vào phòng trong lễ bái, phải qua cửa đồn công an ở phía ngoài. Nghe đâu từ đó đền chùa Sét hết thiêng. Sau chùa Sét là cổ mộ của các công chúa ở thời nào không ai biết cũng bị chìm vào lãng quên. Đêm đến, từng đàn đom đóm bay trên cổ mộ âm u phảng phất hương vị liêu trai. Trường học của người Tầu đặt ở đường Yên Phụ, gần nhà máy nước. Thời ấy, ngôi trường Tầu khá đồ sộ. Học sinh Tầu, học trường Tầu. Thang điểm của người Việt tính từ 1-10, còn thang điểm của người Tầu tính từ 1-100. Người Hoa Kiều ở đâu họ cũng tạo điều kiện như quê hương: có chùa riêng, trường riêng, bệnh viện riêng, nghĩa trang riêng, nên người Tầu ở Hà Nội rất yên tâm sống nơi đất khách quê người. Họ coi như đã có một nước Tầu trong Thủ đô Hà Nội, vì vậy họ ít nghĩ tới về thăm quê hương. Người Tầu ở Hà Nội rất ít bàn tán đến chính trị. Họ ít chú ý đến bên Trung Quốc, Tưởng Giới Thạch hay Mao Trạch Đông ai đúng, ai sai, ai tốt, ai xấu. Họ tập trung tất cả về làm ăn kinh tế. Làm ăn kinh tế thì người Tầu họ giỏi lắm. Đặc biệt người Tầu giỏi về mặt hàng ăn uống. Cái nhà văn hoá hiện nay ở phố Hàng Buồm, xưa là hiệu bánh trung thu to nhất Hà Nội. Cửa hàng ăn Đông Kinh, Mỹ Kinh ở phố Hàng Buồm cũng đứng đầu Thủ đô. Ngay cả đến những ông Tầu cắp cái hòm bán lạc rang, phá sa thì cũng nhất luôn, không một người Việt nào bán phá sa ngon bằng Tầu. Người Tầu họ rất năng động. Hôm nay người Tầu là tỷ phú, ngày mai phá sản họ sẵn sàng bán phá sa ngay ở Bờ Hồ. Ngày ấy, những ngày rét nhất đi qua nhà bưu điện Bờ Hồ, ta thường thấy những ông Tầu bán phá sa co ro ngồi trong chân tháp, hoặc dưới gốc cây sấu rao hàng giọng lơ lớ Việt “Phá sa húng lìu đây”. Sự tương trợ của người Tầu cũng rất thắm thiết. Họ không gọi nhau là khách hàng mà gọi nhau là bạn hàng, nếu bạn hàng nào thất bại, họ sẵn sàng giúp đỡ đến đủ ba lần. Nếu không làm ăn được nữa thì họ mặc kệ, họ không phá lệ quá tam ba bận. Ở phố Ô Quan Chưởng có bà chồng chết, một mình nuôi năm con nhỏ, có một ông Tầu sẵn sàng đến ở chung cùng san sẻ gánh nặng gia đình. Tính dân tộc của người Tầu cao nên con trai Tầu lấy gái Việt thì họ đi dự rất đông, nếu gái Tầu lấy trai Việt thì họ thường không đến dự đám cưới, xuất giá tòng phu mà. Thời đó, người Hà Nội có may mắn được chiêm ngưỡng các cô gái quý tộc bó chân, các cô gái này có đôi chân bé tí tẹo, muốn đi đâu phải có hai hầu gái dìu. Cũng có một ông Tầu bán thịt quay quá béo muốn đứng dậy phải có hai người nâng lên mới đi được. Một số trẻ con Việt Nam kéo ông Tầu béo phì ngồi xuống, rồi bắt ông ta phải cho tiền mới nâng lên. Ngõ Hàng Giầy, thường có ông Tầu khoèo chân, đi lại bằng hai tay chống lên hai chiếc ghế, mặt ông béo trắng bệ vệ lắm. Đến ngày nay ai đi qua phố Hàng Buồm cũng không quên trong các cửa hàng ông Tầu béo chặt thịt quay rất diệu nghệ. Tiếng dao chặt xuống thớt theo giai điệu như một nhạc cụ gõ phách trong điệu hát quan họ. Dao chặt nhanh, miếng thịt rời dao không hề rung động. Phố Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Đào lẫn lộn có cả người Hoa, người Việt và người Ấn Độ. Người Ấn Độ chuyên bán hàng tơ lụa Bom Bay nổi tiếng mà người Tầu và Việt khó cạnh tranh nổi. Trẻ con Tầu và Việt cùng ghét người Ấn Độ. Trẻ con thường nắm chéo vạt áo trông giống cái tai lợn, người Ấn Độ thờ lợn, họ bị xúc phạm vào tín ngưỡng nên đuổi đánh tụi trẻ đến cùng. Rồi tối đó, người Ấn Độ đến ngôi chùa Tây đen duy nhất ở đầu phố Hàng Lược lễ tạ tội. Hiện nay ngôi chùa Tây đen này vẫn còn, nhưng đóng cửa im ỉm nửa thế kỷ nay hình như không có hành lễ gì cả. Còn dãy phố lẻ bên phố Hàng Đào thường nhà nào cũng bị nứt ngang vì ngày xưa phía phố Cầu Gỗ, Gia Ngư là sông, đất này là đất mượn, nên cả nền đất phía phố lẻ bên Hàng Đào trượt và trôi ra phía phố Cầu Gỗ xé rách các ngôi nhà ra ở phía giữa. Hà Nội có dạo giới hâm mộ thường xôn xao về võ sỹ Vương Băng Phu bên Tầu sang biểu diễn ở Nhà Hát Lớn nửa tháng, người xem đông như kiến. Sau đó giới võ sỹ Việt Nam, giới lục lâm giang hồ gửi thư thách đấu theo kiểu Tâm Ba Tai thi cắt một tai rồi đem nướng, nhắm rượu. Vương Băng Phu không nhận lời, mà chỉ yêu cầu thi biểu diễn vật bò, chất gỗ lên bụng người đứng trên đó đến hàng mấy tấn. Trẻ con Tầu và trẻ con Việt sống với nhau tương đối hoà thuận. Tuy có đôi lúc cũng chia làm hai phe, phe ta và Tầu đánh nhau xong vài trận là thôi. Hàng Đào trước có tầu điện chạy qua. Khoảng 1970 tầu điện tã lắm. Có lúc chạy rơi cả bánh, cả cần câu điện, thỉnh thoảng tầu lại chết, khách phải chờ đến hàng tiếng. Có lần tầu điện chồm ra khỏi đường sắt đâm lên hè nhà truyền thần số 51 Hàng Đào. Hàng Đào đông nhất là ngày Quốc khánh, tắc kín người ở chỗ Hàng Đào đâm ra Bờ Hồ. Lần tắc đông hơn là hôm có đàn voi đi qua để lên vườn Bách Thú. Tất cả hàng phố, người ra đường đông nghịt để ngắm voi đi qua. Chuyện lạ nhất đời. Mọi người hò hét vỡ trời khi có chú voi đang đi ngừng lại cong đuôi ỉa. Mọi người hô to: “Tất cả ra xem voi ỉa đi!”. Đống phân voi to như đứa trẻ, hơi bốc lên ngùn ngụt. Dù đã hơn 30 năm trôi qua, những người Tầu Hà Nội bị bức đi di tản sau chuyện đụng độ biên giới giữa ta và Trung Quốc thì không ai quên. Những người Trung Quốc ở Hà Nội được mời đi họp và báo cho biết phải rời bỏ Việt Nam. Nghe tin sét đánh ngang tai này, những người Tầu không có cách nào đành mang tất cả chổi cùn, rế rách đem bầy bán ở khắp vỉa hè phố xá nơi có người Tầu ở, dĩ nhiên đông nhất là ở phố Hàng Buồm. Cái cảnh chợ giời này cũng hốt hoảng, nhếch nhác như cảnh chợ giời họp ở hồ Ha-le của đồng bào Hà Nội đi di tản vào Nam theo Ngô Đình Diệm năm 1954. Thời đó, những người Tầu đang sống yên phận, bỗng dưng bị tai bay vạ gió, trông người nào cũng phờ phạc, ngơ ngác, hốt hoảng, người gầy tọp đi. Rồi cái gì đến sẽ đến, từng đoàn người Tầu, sau khi thu vén được ít tiền, cầm xuống Hải Phòng đóng thuyền gỗ để vượt biên. Năm 1954, đồng bào ta bị dụ dỗ di cư vào Nam còn được ngồi trên tầu sắt há mồm đồ sộ. Nay người Tầu phải đi trên chiếc tầu gỗ đóng vội, khóc lóc trông thật não nùng. Chiếc thuyền ra xa, biển mênh mông, thuyền chỉ như chiếc lá tre vật vờ trên sóng nước: “Mùi tục lệ lưỡi lê tân khổ Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu Sóng dồn cửa bể nhấp nhô Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh” Những chuyến phiêu lưu biển cả bất đắc dĩ của các thuyền nhân rồi cũng đều cặp bến. Đúng là trong hoạ có phúc. Những người vượt biên được định cư ở Mỹ và Châu Âu gửi tin về đều rất tốt đẹp, trừ một vài trường hợp rủi ro. Thế là một làn sóng người Việt ồ ạt vượt biên. Nơi nào cũng chỉ bàn về vượt biên. Họ nhìn những kẻ vượt biên sống sót như được sống ở Thiên đường, Niết bàn. “Chung quy chỉ tại vua Hùng Đẻ ra một lũ vừa khùng vừa điên Thằng khôn thì đã vượt biên Còn lại một lũ vừa điên vừa khùng” Những người Việt vượt biên thật đầy thảm hại: chết đuối, chết khát, đắm thuyền, hải tặc, hãm hiếp, giết người, lừa đảo… thật kinh khủng. Sang đến nước ngoài, lại bị tập trung giam lại. Một số ít người định cư ở nước thứ ba, còn đa số bị xua đuổi về nước: “Cố tình trồng hoa, hoa không nở Vô tình cắm liễu, liễu lên xanh” Cho đến nay, đất nước Việt Nam sau thời mở cửa, hoà nhập với toàn cầu hoá, cuộc sống có nhiều thay đổi. Ngày nay, nhiều Việt kiều lại mơ ước trở về sống ở quê cha đất tổ. Thật ra những cuộc vượt biên thời 1980 chỉ vì kinh tế. Các thế lực chính quyền chỉ lợi dụng người di tản để phục vụ cho mục đích chính trị của mình. Nước lấy dân làm gốc, dân lấy ăn làm đầu. Những người Việt Nam trong nước làm ăn giầu có ngày nay lại có trách nhiệm ngược lại là viện trợ cho kiều bào ta ở nước ngoài gặp khó khăn. Người có tuổi ở Việt Nam nay chỉ ra nước ngoài để du lịch. Còn lớp trẻ chỉ mơ đi nước ngoài để du học. Còn đa số không thích đi định cư làm ăn ở nước ngoài. Những Việt Kiều về nước, thấy đất nước đã thay đổi, khi chia tay về Mỹ họ đều bâng khuâng một cảm giác là về Mỹ hay sang Mỹ đây? “Cùng chung một chuyến đò ngang Kẻ thì sang bến, người đang trở về Lái đò lái mãi thành mê Sang về chẳng biết mình về hay sang” Ngày xưa, Việt Kiều coi như được ở Niết bàn, Thiên đường. Việt Kiều về nước ngày nay coi như bình thường, chứ không là niềm ước ao của mọi cô gái Việt thời 1980 nữa. Đời quả là huyền vi. Những người Tầu ở Hà Nội, nơi họ thường yên tâm và hoàn toàn không có óc giang hồ, thế mà đùng một cái, cơ trời thế nào mà lại tung hoành giang hồ khắp năm châu bốn biển. Mấy ông Tầu ở phố Ô Quan Chưởng có một niềm vui duy nhất là tối đến mặc quần đùi, ngồi phưỡn bụng bàn chuyện tầm phào. Nhiều khi, họ thấy ông Tầu gánh hàng quà rao “chí mà phù”, ông buột mồm đế theo “bố mày mù”. Thế rồi cãi nhau vô tư, cãi nhau như một niềm vui. Họ cứ ngồi hóng mát vỉa hè cho tới lúc tối mịt, muỗi bay vo ve họ cầm quạt phe phẩy đi vào căn nhà chật chội ngủ qua đêm một cách yên bình. Thế rồi chả hiểu sao họ lại trở thành thuyền nhân phiêu lưu trên biển cả mênh mông. Đời quả là vô thường. BÁT PHỐ QUANH HỒ GƯƠM “Thịt rừng cùng gái chân quê Ở đâu rồi cũng kéo về Thủ đô Còn dân chính hiệu Bờ Hồ Khát khao lên tận Đồng Mô đi cầy” Một khía cạnh thể hiện tính cách của dân Hà Nội là: người Hà Nội sống chen chúc chật chội, nên họ rất khao khát khoảng cách. Họ mơ ước cảnh núi non hùng vĩ, giữa người với người là khoảng cách sơn thuỷ hữu tình. Người Hà Nội sợ ồn ào, song im lặng còn đáng sợ hơn. Khi mua đất lên trang trại, lên núi ở, họ thấy thấm thía nỗi cô đơn. Có đôi vợ chồng nghệ sỹ sống ở Bờ Hồ, họ lên Xuân Mai mở một nhà hàng ăn bên triền núi. Sau một thời gian họ buồn đến phát ốm. Họ lại bàn nhau mua chiếc xe ô tô chở bạn bè Hà Nội lên chơi. Bạn bè tấm tắc khen chỗ ở của họ đẹp hơn cả phủ thủ tướng, và có lẽ sống giữa thiên nhiên trong sạch thế này, họ sẽ thọ đến hơn 100 tuổi. Đôi vợ chồng được lời khen cũng thấy an tâm và tự hào đôi chút. Song, khi chiều đưa ô tô tiễn bạn hữu về Hà Nội, họ lại càng thấy buồn hơn. Thế rồi, họ cũng tìm ra cách giải quyết là tổ chức chơi cờ bạc thâu đêm suốt sáng. Biết bao gia đình Hà Nội lên vùng rừng núi xây dựng khu sơn thuỷ hữu tình, không lẽ vợ chồng chỉ ngắm cảnh một mình khác gì áo gấm đi đêm, cho nên vợ chồng đành đánh xe về đón bạn bè lên chơi nhậu nhẹt từ chiều thứ sáu đến sáng thứ hai lại đưa nhau về Hà Nội tốn kém đến dăm triệu. Chưa kể những người, khi đất sốt, vay công mắc nợ lên vùng núi mua đất, khi đất hạ thì sống dở chết dở, chỉ thiếu nước nhẩy lầu hoặc uống thuốc chuột. Đặc biệt, người Hà Nội nào yên tâm ở miềm núi thì họ lại nẩy sinh những tư tưởng kỳ lạ. Có người khoét núi làm thành một cái hang để đặt mộ vợ chồng họ khi chết. Nắp hang là một hòn núi nhỏ. Họ khoét trên miệng hang, chỉ cần đục chân đá, là khối núi con sẽ lấp cửa hang. Hầm mộ của họ sẽ kín đáo bí mật như mả Tào Tháo. Cũng có người còn đặt mộ trong hang rồi đào nghách như lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng. Họ thuê thợ điêu khắc đá tạc tượng các chiến binh cũng như lăng mộ Tần Thuỷ Hoàng. Còn ngược lại, người rừng núi lại lũ lượt kéo nhau về Hà Nội. Về Hà Nội, người tỉnh lẻ thường có một niềm mơ ước lớn lao để dù có chết cũng mãn nguyện, đó là vào thăm lăng Bác Hồ. “Ta như quả lắc quả cân Chuyển động là để tự tâm quân bình” Chuyện xung quanh Bờ Hồ cũng có nhiều điều lý thú. Có lần mấy cô gái thách đố nhau: nếu ai dám cởi truồng đi quanh một vòng hồ Hoàn Kiếm sẽ được thưởng lạng vàng. Có một cô gái nhận lời, cởi truồng đi một đoạn thì bị công an bắt giữ. Thời mới giải phóng, khi đi qua nhà bưu điện Bờ Hồ sáng và chiều ai cũng tò mò nhìn đoàn lính quốc tế bảo vệ hiệp định Geneve đổi gác. Bát Phố nhìn đám lính vừa xa lạ vừa oai nghiêm vừa ngộ nghĩnh. Cũng có mấy ông người Hà Nội tin tưởng mù quáng vào mấy ông quốc tế dởm này nên đã đường hoàng tiến vào dinh của mấy bố lính quốc tế yêu cầu chính phủ ta thi hành đúng hiệp định Geneve. Họ biết đâu lính quốc tế này chỉ là bù nhìn. Cái ông xông vào ủy ban quốc tế sau này lĩnh đủ hậu quả. Thời đó Bát Phố cũng như người dân Việt Nam quá non nớt về chính trị. Thời bao cấp có luật bất thành văn là người Việt không được giao lưu với khách nước ngoài. Nếu ai vô tình nói chuyện với người nước ngoài sẽ có người vỗ vai nhắc nhở. Nếu gia đình nào có khách Tây vào nhà coi như náo động cả khu phố. Ngay lập tức đồng chí Công an hộ khẩu phải có trách nhiệm đến nắm tình hình cụ thể. Bờ Hồ ngày xưa hàng năm có tổ chức đua xe đạp. Có một cua-rơ tên là Bát, tuổi ngoài 70, râu tóc bạc phơ, năm nào cũng thi đấu và bao giờ cũng bét nhưng không bỏ cuộc. Rút cục, cua-rơ Bát già đi vào lịch sử. Mọi người đi xem đua xe đạp chỉ nhớ đến cụ cua-rơ Bát già chứ không nhớ đến nhà vô địch. Cụ Lạng to gan lớn mật nhất ở phố Đinh Tiên Hoàng dám tự nhận mình là đấng cứu thế, biển hiệu đề: “Hiệu thuốc Cứu Thế”. Cụ Cứu Thế qua tuổi thất thập cổ lai hy, râu tóc bạc phơ, trông vẻ đạo mạo của thầy thuốc, dáng như khô mộc tiên sinh. Đùng một cái cụ lấy vợ, mà cô vợ chỉ 20 tuổi, bây giờ là chuyện bình thường, thời bao cấp thì rung chuyển cả thành phố Hà Nội. Sáng, trưa, chiều, tối nhân dân Hà Nội bàn tán về cụ như một sự kiện lịch sử. Người sỗ sàng thì sộc vào nhà xem mặt cô dâu cụ rể. Người ý tứ thì đứng bên hồ Hoàn Kiếm chỉ chỏ nhìn vào, Xem mãi, bàn mãi, chửi mãi rồi cũng dần quên đi. Cụ Cứu Thế đổi tên thành cụ Cứ Thế. Cũng có lần dân Bờ Hồ lại lũ lượt đi xuống bệnh viện Bạch Mai xem một bà cao hơn 2,3m. Giường của bà phải kê thêm hàng ghế cho dài ra. Năm 22 tuổi bà chỉ cao 1,5m, sau một lần ngã đập gáy xuống phản, hạch não đột khởi bị tổn thương, bà bỗng cao vọt lên, đến năm 30 tuổi thì bà cao 2,3m. Nhiều người mang quà vào biếu bà để tò mò được ngắm bà tận nơi. Nhiều người thập thò ở cửa phòng, cô y tá đỡ bà đứng dậy, mọi người sợ quá vì thấy con người khổng lồ ngoài sức tưởng tượng, họ hốt hoảng bỏ chạy, dẫm đè lên nhau. Cũng có lúc người Bờ Hồ tẽn tò khi lũ lượt rủ nhau đi xem người bị trăn cuốn phải đưa vào bệnh viện Bạch Mai. Một đồn trăm, trăm đồn nghìn, thêu dệt thành câu chuyện ly kỳ rùng rợn. Mọi người dân quanh Bờ Hồ đến nơi mới ngã ngửa người ra, vì có người bị ốm, gia đình bảo phải cuộn chăn kín người đem vào cấp cứu sợ bị cảm. Mấy bà hàng nước nghe cuốn chăn vào ngưòi thành “trăn cuốn vào người” phải mang ngay đi cấp cứu. Ai đi vòng Bờ Hồ cũng đều thấy cửa hàng Phú Gia đồ sộ trông ra tháp Rùa, vị trí này là nơi ngắm tháp Rùa gần nhất. Sau này cửa hàng Phú Gia được một nhà sưu tầm tranh nổi tiếng nhất Việt Nam xây dựng lại thành một khách sạn đồ sộ nguy nga, nhưng ai qua đây cũng đều có cảm giác nuối tiếc về nhà hàng Phú Gia xưa. Thời Pháp tổ chức chợ phiên cũng dùng nơi này để bắc cầu ra tháp Rùa. Hàng Trống có cụ B.G là Phú Gia địch quốc. Mật thám Pháp không ngờ gia đình giàu có như cụ lại là nơi họp bí mật của Việt Minh hoạt động nội thành. Để che mắt Phòng Nhì Pháp, cụ lập hẳn bàn thờ Phật trong nhà, tổ chức Phật tử hàng ngày đến lễ bái, thực ra để Việt Minh hội họp. Ngày Quốc khánh mùng 2/9 cụ bí mật thả chim bồ câu đeo cờ đỏ sao vàng bay khắp Hà Nội. Có lần vì mua chim bồ câu lại nhốt mấy ngày, nên khi thả chim bồ câu đeo cờ đỏ sao vàng chỉ đậu trên nóc nhà, gia đình cụ B.G sợ toát mồ hôi, xua mãi chim mới bay đi, may mà bóp cảnh sát đóng ở ngay phố Hàng Trống không phát hiện ra vì tụi này tin nhà tỷ phú B.G không bao giờ theo cộng sản. Cụ B.G khuyên con cháu không được sát sinh, chính tay cụ cho cá vào chậu khệ nệ bê ra Bờ Hồ thả phóng sinh cho toàn dân trông thấy. Sau ngày giải phóng, cụ B.G được bầu làm chủ tịch hội thương gia Hà Nội, ba lần trúng đại biểu Quốc hội, người Hà Nội duy nhất được hai lần Bác Hồ đến chúc tết. Ngày xưa, cả Hà Nội chỉ có hai đồn cảnh sát: Hàng Trống và Hàng Đậu. Bóp cảnh sát Hàng Đậu đối diện với nhà tròn, xưa là nơi tạm giam giữ người phạm luật. Cả Hà Nội thời tạm chiếm chỉ vẻn vẹn có 60 cảnh sát giữ trật tự cho cả thành phố. Trong truyện Vũ Trọng Phụng viết về hai cảnh sát “Min-oong” và “Min-đơ” đi suốt thành phố mà chẳng phạt được ai, may ra vớ vẩn bắt mấy con chó thả rông. Dân ngày xưa nghiêm lắm, không ai dám trèo lên cột điện, hoặc dẫm lên vườn hoa công cộng. Còn ngày nay, một đồn cảnh sát tăng cường cũng có đến 60 chiến sỹ, toàn thành phố có lẽ đến nghìn đồn cảnh sát mà trật tự cũng còn chưa an tuy vẫn ổn. Gần đầu Hàng Trống xưa, có họa sỹ Mạnh Quỳnh, họa sỹ minh hoạ nổi tiếng nhất của Hà Nội với chữ ký như chiếc xe tăng và nhân vật hài hước tiêu biểu thể hiện nét vẽ tài hoa của họa sỹ là: Vá và Vếu. Hai nhân vật biếm hoạ Vá và Vếu một thời rất lâu là món ăn tinh thần không thể thiếu của Hà Nội. Sau giải phóng thì vai trò minh hoạ của Mạnh Quỳnh cùng một số họa sỹ bị thất sủng vì không phải là lớp họa sỹ từ kháng chiến trở về. Họa sỹ Mạnh Quỳnh kiếm ăn độ nhật bằng nghề dậy vẽ. Họa sỹ Mạnh Quỳnh dáng to cao, mặt chữ điền, người mở lớp vẽ đầu tiên ở Hà Nội thời hoà bình lập lại. Lớp vẽ của thầy Quỳnh nhỏ hẹp nằm ở tầng hai, học sinh chỉ độ 20 người. Người mẫu chỉ toàn là nam, chứ thời ấy dùng mẫu nữ nude thì có mà tù mọt gông. Thầy Quỳnh dậy học sinh rất tận tuỵ, bài bản. Song học sinh của thầy còn thiếu sáng tạo, nét vẽ của thầy Quỳnh rất chắc, thể thiện sâu sắc sự học chu đáo của thầy. Song vì nét vẽ của thầy Quỳnh quá nghiêm chỉnh, bài bản nên hơi khô, còn họa sỹ Bùi Xuân Phái thì thích phá cách sáng tạo độc đáo hơn. Giữa phố Hàng Trống có đền Hàng Trống. Đền Hàng Trống xưa kia đi lễ đông hơn bây giờ nhiều. Người đứng lễ phải xếp hàng từ ngoài đường. Ngày xưa, phố xá vắng vẻ, ngôi đền Hàng Trống sương khói mịt mờ, phố xá trông có vẻ thiêng hơn bây giờ nhiều. Hai nhà bên cạnh đồn Hàng Trống là nhà săm, có chứa gái mại dâm. Bây giờ tiếng chuông, tiếng cầu kinh ở phố đang thị trường hoá, tây hoá có vẻ như lạc lõng: “Tiếng chuông vào phố lạc đường Sư già khất thực luôn mồm thanh kiu” Cách đền dăm nhà, có thời là lớp dậy vẽ của họa sỹ Đinh Minh và Phạm Viết Song. Lớp này có sự chỉ đạo tổ chức của sở văn hoá thông tin nên lớn mạnh hơn. Lớp vẽ đặt trên tầng hai, học sinh có đến gần trăm. Học sinh thì đủ các lứa tuổi. Thầy Phạm Viết Song có nhiều dấu ấn nhất với các họa sỹ trẻ. Đa số các họa sỹ này đều qua thầy Song giảng dậy sơ cấp. Thầy Song là một nhà giáo mẫu mực, nhưng không phải là họa sỹ xuất chúng. Khi về già, thầy Song rất thích nuôi chó fox, tiền thì thầy không đủ để mua chó đẹp, thầy gạ đem tranh đổi lấy chó. Nhưng phi vụ đổi chác này ít thành công, vì những người nuôi chó ít có ai thích thú chơi tranh. Cuối phố Hàng Trống, cạnh nhà hàng Phú Gia xưa là rạp chiếu bóng Lửa Hồng, trụ sở trung tâm của tổ chức Hướng Đạo Viên và Sói Con. Tổ chức Hướng Đạo Viên và Sói Con cũng gần như đoàn thanh niên và thiếu niên cộng sản, nhưng không nghiêng về chính trị mà chủ yếu là vui chơi, cắm trại. Thiếu niên Hà Nội thời tạm chiến đều rất nhớ âm hưởng của bài hát của Hướng Đạo Viên: “Ngày xưa…vào trong núi rừng và cùng anh sói…”. Bài hát này tác động như bài: “Cùng nhau ta đi lên theo bước đoàn thanh niên…” Một số nhân vật sinh sống quanh Hồ Gươm, một thời rất quen thuộc với người Hà Nội, nay đã không còn. Người xưa mất mà như còn, phải kể đến Nguyễn Siêu, người xây Tháp Bút: “Văn như Siêu Quát vô tiền Hán Thi đáo tùng thư thất thịnh Đường” Thần Siêu, Thánh Quát tuy mất mà còn. Cháu đích tôn của Nguyễn Siêu là Nguyễn Tự Huy đã sống một cuộc đời khá cơ cực trong cái danh thơm của tiên tổ. Đến đời con ông Huy, chắt cụ Nguyễn Siêu cũng không ngoài quy luật thịnh mãi phải suy. Rồi hình ảnh những ông Tầu bán phá sa ngồi co ro trong tháp trước cửa nhà bưu điện, hoặc bên gốc sấu già, không biết giờ đi đâu, về đâu. Thời 79 ta xua đuổi người Hoa, ông di tản ở nơi nào? Còn hay mất hả ông bán phá sa ơi! Bây giờ có việc xưa thường gặp thì gần như không thấy, như thời Hà Nội tạm chiến, thỉnh thoảng lại có một đám đông tụ tập bên hồ, mặt ngơ ngác, u hoài chỉ ra phía giữa Hồ, nơi xác người con gái tự tử rập rờn trên nước biếc. Đời là bể khổ, nỗi buồn này không của riêng ai. Chẳng biết cô gái chết vì ai, nhưng sự thêu dệt của miệng lưỡi thế gian chỉ quanh chuyện tình ái mà thôi. Chuyện ấy cũng hay gặp trong tiểu thuyết của các nhà văn trong Tự lực văn đoàn. Nhiều cô gái đã nhẩy cầu Thê Húc tự vẫn được cứu thoát. Sau khi tự tử hụt ấy, chẳng biết rồi cô gái sẽ ra sao? Ngày nay, các cô gái có thất tình, nạo thai, họ cũng không tự tử đâu. Không biết có ai khi dừng chân nơi Tháp Bút nhớ đến hình ảnh một số họa sỹ lang thang ngồi vẽ chân dung bên Tháp Bút, thỉnh thoảng lại bị công an xua đuổi hoặc bị tạm giữ trên đồn. Trong các họa sỹ lang thang ấy có họa sỹ hình như tên là Mạnh Hải. Hải người nhỏ thó, mặt hom hem, nhưng cũng gây được đình đám thời 1970. Mạnh Hải là họa sỹ đầu tiên vẽ ảnh Bác Hồ bằng sơn dầu to nhất Việt Nam, nghe đâu phải dùng máy bay trực thăng mới cẩu lên treo được ở nóc nhà Ngân hàng Quốc gia Việt Nam. Cuối đời Mạnh Hải về sống ở khu lao động Tân Mai, nghe nói cũng tiêu điều lắm. Mọi sự rồi cũng rơi vào lãng quên. Mạnh Hải thành cụ già lẩm cẩm hay ngồi ở chợ Trương Định. Ngày xưa, quanh Hồ Gươm còn có một số thanh niên lành nghề khắc bút, dùng dao nhọn khắc tên chủ vào bút máy. Độ ấy thú chơi nghèo nàn lắm, khắc tên vào bút cũng là kiểu chơi thú vị. Công an dẹp đám khắc bút hơi bị khó, vì họ chỉ cầm một con dao khắc ngồi ở ghế đá mời chào khách, vả lại cái chuyện khắc bút cũng không ảnh hưởng gì đến hoà bình thế giới, nên nghề khắc bút gắn bó khá lâu với Hồ Gươm. Người khắc bút nổi tiếng nhất bên Hồ Gươm là Việt. Việt người Hà Nội, gốc Hàng Đường, gia đình danh giá. Vì thế sự thăng trầm nên phải mưu sinh bằng nghề khắc bút, và trôi dạt ra Bờ Hồ, lấy bờ hồ làm nơi kiếm cơm, độ nhật qua ngày. Sau này, gặp thời mở cửa với quãng đời từng trải quanh Bờ Hồ, Việt đã thành ông chủ mở một “quán nhậu bên sông” tại chân cầu Chương Dương. Hồ Gươm còn có một nhân vật đáng lưu ý là Hoàng Giác với cửa hàng đàn gần phía nhà ga xe điện Bờ Hồ. Hoàng Giác bán đàn kiêm cả dạy đàn ghi ta. Hoàng Giác có khuôn mặt trái xoan, dáng nho nhã, là tác giả nhiều bài hát về đồng quê, bài nhạc có lời tựa bởi hai câu thơ: “Bao năm luân lạc quê người Men say dở khóc dở cười nhớ quê” Lời khúc đầu bài hát là: “Từ bao năm quê người sống điêu linh, mơ đồng lúa xanh tươi, êm đềm dìu theo cánh gió, vang tiếng tiêu u buồn lúc chiều tà” Em Hoàng Giác là Hoàng Kim, cùng dậy đàn với Hoàng Giác. Hoàng Kim dáng phục phịch, mặt vô tư, cười hể hả. Thời chiến tranh phá hoại, Hoàng Kim có đi đánh đàn và hát phục vụ cho các đơn vị pháo bảo vệ quanh Hà Nội. Lớp dạy đàn của Hoàng Giác nửa trong nhà, nửa vỉa hè vì nhà rộng độ hơn 1m. Nếu không nhầm thì nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm nổi danh từ thời chống Mỹ là con nhạc sỹ Hà thành: Hoàng Giác. Ngày nay, từng đoàn nam thanh nữ tú quần áo muôn mầu sắc, tung tăng như đàn bướm bay lượn, có biết đâu rằng thế hệ trước đó bị cắt tóc, rạch quần vì dám ăn mặc theo ý mình. Những kiểu đầu theo mốt: cạo trọc, nhuộm tóc... ngày xưa mà vậy thì vào tù sớm. Hồ Gươm ngày nay đẹp hơn xưa cả về nội dung lẫn hình thức. Thuở xưa, Hồ Gươm bẩn hơn và tình hình trật tự kém. Đi chơi Hồ Gươm ta thấy không yên tâm, hơi rờn rợn. Còn ngày nay, đến bất kỳ giờ nào đi chơi quanh Hồ Gươm ta cũng thanh thản như ở nhà mình. Quanh Hồ Gươm thời Pháp, hàng năm có tổ chức chợ phiên. Chợ phiên cửa trước là mặt đường Nhà Thuỷ Tạ, cửa sau là phố Tràng Thi. Hình ảnh nhớ nhất về mọi cuộc chợ phiên là các sòng cờ bạc tôm, cua, rùa, cá… hoạt động mạnh mẽ. Thỉnh thoảng cũng có tốp Tây, Đầm vào xem qua. Trong khu đặt tượng Lê Thái Tổ có tổ chức một mê cung, đường đi như trận đồ bát quái, ai đến được đích thâm cung sẽ được hoa hậu tặng một nụ hôn. Hỏi ra mới biết là bị lừa, vì chẳng ai được hôn hoa hậu cả, cái đích cuối cùng lại vòng ra chỗ bắt đầu vào. Ngày chợ phiên, Pháp bắc chiếc cầu ra Tháp Rùa. Người thiết kế chiếc cầu là ông Trần Văn Hoè, cũng là đồng tác giả tượng cảm tử quân trước cửa đền Ngọc Sơn. Con ông Trần Văn Hoè là Trần Thế Mỹ, giảng viên đại học Mỹ thuật Công nghiệp. Trước cửa nhà Thuỷ Tạ xưa có cửa hàng bánh tôm nổi tiếng, nổi tiếng nhất là bà bán bánh tôm béo như thùng ton-nô. Mọi người gọi là quán bánh tôm mụ béo. Sau đó sợ chữ mụ béo là sấc sược, nên đổi thành quán Tộ Béo. Cạnh quán bánh tôm Tộ Béo là mấy ông Tầu bán nộm bò khô vỉa hè, tiếng kéo lách tách thay cho lời rao. Khách ăn toàn đứng. Trẻ con có cái thú đi bắt ve sầu, cà cộ quanh Hồ Gươm. Cứ mỗi độ hè, ve sầu kêu ran quanh Hồ Gươm, lòng trẻ lại dậy lên ham muốn đến rạo rực đi bắt ve sầu và cà cộ. Ve sầu có hai loại, loại ve sầu kim nhỏ nhưng có tiếng kêu hay hơn loại ve sầu thường. Còn cà cộ to và đen đậu trên cây gạo cao chót vót, trẻ con trông thấy chỉ có thèm rỏ rãi chứ không bắt nổi. Muốn bắt ve sầu đậu trên cây thì chúng lấy một cây sào càng dài càng tốt, đầu sào phết nhựa mít hoặc nhựa vá săm xe đạp, tìm dấu vết ve sầu theo tiếng kêu, sau đó lấy đầu sào có nhựa dính vào cánh ve là bắt sống, nhưng cũng khó, vì ve thấy động bay vù đi mất. Khó nữa là cảnh sát, họ thấy trẻ con mang sào là đuổi. Cậu bé Viết Thuỳ táo tợn hơn, tìm chỗ vắng trèo lên cây để bắt ve. Cậu ta trèo trên cành phượng vĩ, phượng vĩ gỗ dòn, chỉ nghe tiếng cắc là Viết Thuỳ đã nằm dưới đất gẫy chân. Sau này Viết Thuỳ trở thành võ sỹ hạng gà có cú đấm rất mạnh, song đôi chân di động kém vì thuở bé chân bị bó vì gẫy. Về già Viết Thuỳ thành nhà thơ, hội viên hội liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội. Còn cách bắt ve lột xác thì dễ hơn. Ve đẻ dưới đất, khi trưởng thành sẽ lột xác từ con sâu nằm trong lòng đất bò lên cây. Đêm mùa hè, sâu ve bò lên cây nằm bất động lột thành ve. Lúc đó ve ở gốc cây, ve lột chỉ bò, không bay được vì cánh còn ướt, trẻ con chỉ cần soi đèn pin quanh các hốc cây bên Hồ Gươm sẽ bắt được. Đêm mùa hè trẻ con đi bắt ve từng đàn, đèn pin soi loạng choạng. Bắt ve kiểu này gặp công an cũng không sợ bị bắt. Có một điều ít người nghĩ mà nhiều người làm là thời chiến tranh phá hoại ác liệt, dân Hà Nội không biết nghe nguồn tin ở đâu mà mỗi khi biết tin địch sắp oanh kích ác liệt Hà Nội là rủ nhau sơ tán lên Bờ Hồ. Dạo ấy có hai cách sơ tán, một là đi thật xa khỏi Hà Nội, hai là tạm về sơ tán giữa lòng Hà Nội: Hồ Gươm. Hàng ngày, dân Hà Nội lũ lựơt kéo nhau đến sống bên Hồ Gươm, cơm nắm muối vừng ăn trệu trạo cho qua bữa, đêm thì ngả lưng bất cứ chỗ nào cũng được, miễn là sống cho qua thời mũi tên hòn đạn. Nhiều người bán tín bán nghi cho là đế quốc Mỹ tàn ác thì bạ đâu ném bom chỗ ấy, tha gì dân, tha gì di tích lịch sử, chỉ có cách sơ tán lên rừng thôi. Cũng có người cả tin đài BBC. Họ tin vào lời nói của BBC cho là dân nên đi sơ tán khỏi các mục tiêu đánh phá, Mỹ chỉ đánh phá nơi trọng điểm. Chẳng biết đúng hay sai thế nào, nhưng rõ ràng khu dân cư Khâm Thiên bị ném bom huỷ diệt. Cũng rõ như ban ngày là khu quanh Bờ Hồ Hoàn Kiếm thì không một trầy sớt trong mọi trận ném bom Hà Nội. Chỉ mỗi lần pháo ta bắn lên trời thì mảnh đạn lại rơi lõm bõm xuống Hồ Gươm. Thôi thì tin vào đài BBC cũng lúc đúng, lúc sai. Nhưng thời ấy người Hà Nội tin vào đài BBC lắm. Đi quanh Hồ Gươm ta được hưởng một cảnh quan kỳ thú, nhưng những ai đa tình, đa cảm không khỏi những suy nghĩ băn khoăn. Đứng trước cửa Uỷ ban Nhân dân Thành phố, mọi người hơi giận cái nhà kiến trúc sư nào mà lại thiết kế quá dở, có người giận quá mất khôn thì bảo nó như cái máy chém. Rồi không ai bảo ai đều luyến tiếc cái toà thị chính cũ, toà thị chính theo kiểu của thời Ma-đơ-len Jăng-van-giăng trong “Người cùng khổ”, sao nó có hồn thế. Người Tây họ kiến trúc giỏi thật. Mỗi ngôi nhà là tác phẩm nghệ thuật sống động. Còn kiến trúc của ta có lẽ phải suy nghĩ lại cách đào tạo hoặc hành nghề hoạt động thế nào. Đường từ Hà Nội đi Hà Đông, thì công trình kiến trúc xấu nhất lại là trường Đại học Kiến Trúc. Trời, cái nhà bưu điện của ta xây cũng quá dở. Cái công trình này có lẽ là xây phải đến hơn chục năm mới xong. Mà dở nhất là cái đồng hồ to tướng trên nóc, nó vuông trằn trẵn lù lù trên nóc để ai cũng phải thấy. Người ta thì đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại, mình thì chơi ngược. Cái xấu thứ hai cũng làm ta khó chịu là siêu thị Plaza vừa xây mới. Ngày xưa chỗ ấy là Bách hóa Tổng hợp duyên dáng bao nhiêu thì ngày nay nó thô thiển, trơ trẽn bấy nhiêu. Những cái cột to tổ bố trước cửa ra vào khiến ta nhìn thấy tức anh ách. Rồi cái hàng hiên bách hoá tổng hợp xưa nó nhẹ nhàng với hàng cột tròn mảnh tưởng như cái mái hiên ấy, nó nhẹ nhàng như cánh diều. Bây giờ đứng dưới cái mái hiên nặng chình chịch trên đầu, lại hay nghĩ dại nhỡ nó sập xuống thì đi tong. Nhà Thuỷ Tạ cạnh hồ xưa đẹp lắm. Nay thì đã bị làm lại xấu đi nhiều. Người kiến trúc sư làm nhà Thuỷ Tạ, Bờ Hồ cũng là kiến trúc sư làm nhà sàn Bác Hồ. Chắc vị kiến trúc sư này cũng đau lòng khi thấy tác phẩm của mình bị thay đổi tuỳ tiện, bôi bác theo ý thích. Tầng sân thượng mái là trời xanh, ngồi đây như thấy được lên tiên. Nay họ xây thành nhà để tiện việc kinh doanh, nghĩ mà đau. Còn cái nhà tròn xưa cũng đẹp lắm, trước là nơi trụ sở của nhân viên tầu điện. Có thời làm đồn cảnh sát. Nhà tròn này một tầng rất hoà hợp với không gian chung quanh. Nay thì ta đã bán cho ai, dân chẳng biết, chỉ biết là họ xây thành cao tầng nhưng xấu khủng khiếp. Nhân dân gọi đấy là toà nhà Hàm Cá Mập, dư luận chê bai, rồi sửa đi sửa lại cũng chẳng hơn được bao nhiêu. Cũng có cái hơi xấu, nhưng nhờ cây cối che đi, người tinh ý mới thấy, đó là đình Trấn Ba bên đền Ngọc Sơn. Đình này so với đền và cầu Thê Húc hơi bị to quá. Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hồ Gươm đã đẻ ra 3 quái thai. 1. Chiếc đồng hồ Thụy Sỹ đồng nát mặt phèn phẹt đặt ở sau quán bán hoa xưa đối diện với Tràng Tiền Plaza và nhà triển lãm thành phố. 2. Quả địa cầu đắp bằng xi măng lù lù như cái mả thằng ăn mày đối diện với sở bưu điện Bờ Hồ. 3. Quyển sách bằng xi măng cốt sắt to tổ bố, rất vô văn hóa đối diện với đền Bà Kiệu và nhà hát múa rối nước. Ba quái thai này chắc là con hoang của ngành Mỹ thuật Việt Nam. Khu đất trước cửa nhà Thuỷ Tạ xưa gọi là võ sỹ đoàn, nơi này chủ yếu là tập thể hình: xà đơn, xà kép, tạ… Những người đắm say về cơ bắp thường đến đây vừa tập, vừa biểu diễn, vừa khoe với khách qua đường, nhất là có mấy cô gái đi qua thì các vận động viên càng lấy dáng, lấy mẽ. Bây giờ khu đất cũng đã cho công ty bảo hiểm xây dựng một khu cao tầng. Khu nhà này bị người yêu phố cổ, Hồ Gươm phản đối kịch liệt, phải dừng lại nhiều lần, nhiều năm thay đổi thiết kế. Song cái gì đến sẽ đế, khu nhà này vẫn mọc lên mà ai trông thấy cũng tức anh ách. “Chạy ngược trên chiếc thuyền xuôi Thì ta vẫn cứ phải trôi theo thuyền” Còn về tượng đài quanh Hồ Gươm thì có lẽ chưa có một điểm nào xứng đáng với cảnh mỹ miều linh thiêng của Hồ Gươm. Đầu tiên, ta ngẫm lại quần thể tượng “Cảm tử quân” bên đền Bà Kiệu. Trong cảnh thiêng liêng cổ kính của đền Bà Kiệu dưới bóng cây đa cổ thụ xưa là cái nhà tám mái cùng hoà nhập với nhau thành một khối như thiên nhiên vốn thế. Nay ai đó lại nghĩ ra cách phá đi cái nhà tám mái tuyệt vời để thay vào đó một quần thể tượng súng gươm không hoà nhập gì vào với không gian cổ kính cả về nội dung lẫn hình thức. Còn xung quanh Tháp Bút thì lổn nhổn những cục, chẳng hiểu cục gì, tưởng như công trường làm đá. Họ quăng ra bừa bãi những cục lổn nhổn to như con lợn, con ngỗng. Nhìn kỹ mới biết là loại tượng hiện đại. Đền Ngọc Sơn cổ kính là vậy lại vứt ra đấy thứ đá mô-đéc thì khác gì ta phải nghe Tây hát chèo: “Sống như tây nghĩ như ta Cội nguồn đau khổ chính là từ đây Sống như ta nghĩ như tây Khác gì ta phải nghe tây hát chèo” Còn tuợng vua Lý Thái Tổ trong vườn hoa Gandhi thì giống bất cứ một ông vua nào trong ước lệ. Ta có thể gọi tên tượng này là bất cứ một ông vua nào cũng được: gọi là Tần Thuỷ Hoàng, Lê Thánh Tông, Gia Long… muốn gọi tên gì tuỳ ý. Tượng này không có vướng víu chút gì trong tâm linh người Việt về hình tượng Lý Thái Tổ, người đọc chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long. Vì tượng này làm theo công thức ước lệ, nên cũng chẳng có gì để khen, có gì để chê. Ta có cảm tưởng về tượng này như người từ hành tinh khác đến. Bờ Hồ trước có cửa hàng bán hoa tươi trông sang Bách hoá Tổng hợp đẹp nhất Việt Nam, chẳng hiểu vì lý do gì bị phá bỏ đi. Ngày nay khách hoài cổ đứng chỗ Bách hoá Tổng hợp cũ nhìn sang Bờ Hồ lại nhớ quán bán hoa, cô bán hoa. Đứng trên nền quán hoa xưa lại hoài niệm Bách hoá Tổng hợp đầy ắp kỷ niệm của một thời Hà Nội. Câu cá mưa nắng suốt ngày Được con cá tép mà say hết lòng Hạnh phúc không thể đếm đong To không hơn nhỏ, ít không kém nhiều Ngày xưa Hồ Gươm có thú câu cá rất chân quê chứ không thủ lợi, sát sinh, đa dâm – câu cá ôm như sau này. Trẻ em thường câu tôm, cá mương, cá bống. Câu tôm thì dùng dây chỉ, lưỡi làm bằng sợi dây phanh xe đạp. Một cần câu có thể buộc tới 6 cái lưỡi mắc mồi giun. Một lần giật có thể được từ 1 đến 6 con tôm. Tôm cắn câu khác hẳn cá. Tôm từ từ kéo phao chìm đến một độ sâu nhất định rồi để im. Người câu cũng phải nhấc lên từ từ chứ không được giật mạnh sẽ bị tuột. Khi tôm mắc câu phải đưa nhanh vào bờ vì tôm chỉ nuốt mồi hờ ngoài miệng, nếu nhấc chậm, tôm dễ bị rơi trở lại hồ. Còn câu cá mương thì ngược lại: phao cứ chớp nhoáy lia lịa, thoắt chìm thoắt nổi. Người câu phải nhanh tay nhanh mắt giật đúng thời cơ. Câu cá bống thì không cần dùng lưỡi, chỉ cần buộc cả con giun vào sợi chỉ rồi nhử dưới nước. Cá bống tham ăn, mồm cá bống lại to hơn thân nên nuốt chửng cả con giun. Vì dây câu không có lưỡi, nên người câu phải giật thật nhanh, mạnh làm cá bống tung lên trời rồi đưa chiếc mũ lá rộng vành ra hứng cá như người làm xiếc. Có lần Bát Phố ngồi câu tôm ở dưới gầm cầu Thê Húc vô tình sờ vào sợi dây điện đã bị giật tí chết. Gần 70 năm sau, nhìn dây điện dưới chân cầu Thê Húc, Bát Phố còn nhớ đời về cú điện giật ấy. Trẻ con câu cá thuở ấy vừa có nét đẹp chân quê của trẻ chăn trâu vừa như tiên đồng ngọc nữ, vừa thanh tịnh như Thiện Tài, Long Nữ bên cạnh Bồ Tát. Còn bây giờ những kẻ câu cá ôm, câu cá trộm bên hồ Hoàn Kiếm mặt vừa lấm lét nhìn công an, vừa đầy sát khí. Từng đoàn vệ sĩ, công an đi lại vẫn không hề cấm được cảnh câu cá trộm vì kẻ câu cá dùng dây câu đặt dưới chân chứ không dùng cần câu nên rất khó bị lộ. Đường quanh hồ gạch lát long lở từng đám. Hồ Gươm như một quý phi bị thất sủng. Quanh Hồ Gươm xưa còn có lớp trẻ con đi xe đạp người lớn như xiếc. Bọn nhóc không ngồi được lên yên xe người lớn (vì thuở ấy hầu như không có xe đạp trẻ con) nên bọn nhóc chỉ còn thò chân dưới khung xe, vẹo người sang một bên đạp nhoay nhoáy như con choi choi mà không hề bị tai nạn vì đường phố vắng lặng. Đặc biệt có những đôi trai gái tập xe đạp với nhau. Thỉnh thoảng cô gái tập xe lại ngã vào lòng anh con trai. Cảm giác mê ly kì thú ấy làm anh con trai thấy lâng lâng cả đời vì thuở ấy nghiêm lắm, làm gì trai gái được hôn hít sờ mó tĩ tã trên ghế đá bờ hồ như ngày nay

Footer title

This content can be configured within your theme settings in your ACP. You can add any HTML including images, paragraphs and lists.

Footer title

This is an example of a list.

Footer title

This content can be configured within your theme settings in your ACP. You can add any HTML including images, paragraphs and lists.

Footer title

This content can be configured within your theme settings in your ACP. You can add any HTML including images, paragraphs and lists.

×
×
  • Create New...